Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học sinh nắm vững biện pháp so sánh trong Luyện từ và câu Lớp 3

doc 23 trang sangkienlop3 01/02/2024 2290
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học sinh nắm vững biện pháp so sánh trong Luyện từ và câu Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học sinh nắm vững biện pháp so sánh trong Luyện từ và câu Lớp 3

Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học sinh nắm vững biện pháp so sánh trong Luyện từ và câu Lớp 3
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH XUÂN – HÀ NỘI
 TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH XUÂN TRUNG
 S¸ng kiÕn kinh nghiÖm 
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG BIỆN PHÁP SO 
 SÁNH TRONG LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3
 MÔN: TIẾNG VIỆT
 Tên tác giả: Đàm Thị Ánh Tuyết
 Giáo viên chủ nhiệm: Lớp 3A4
 Năm học: 2011 – 2012 3. Đối tượng nghiên cứu
 Để thực hiện đề tài này, tôi đã nghiên cứu qua đối tượng học sinh lớp 3A4 
– Trường Tiểu học Thanh Xuân Trung với mục đích nâng cao hiệu quả giờ học 
góp phần khắc sâu kiến thức cho học sinh.
4. Phương pháp nghiên cứu
 - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
 - Phương pháp tích hợp
 - Phương pháp thực nghiệm
 - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
 - Phương pháp điều tra 
 2 - TiÕt 7: Cung cÊp vµ kh¾c s©u kiÕn thøc cho häc sinh vÒ yÕu tè chØ ph­¬ng 
diÖn so s¸nh.
 - TiÕt 8: ¤n tËp.
 C¸c kÜ n¨ng häc sinh cÇn ®¹t ®­îc lµ: t¹o ®­îc c¸c h×nh ¶nh so s¸nh, biÕt ¸p 
dông c¸c h×nh ¶nh so s¸nh vµo c©u v¨n, ®o¹n v¨n (khi ®· biÕt t¸c. Để phục vụ 
cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê phân tích các hướng nghiên cứu 
biện pháp so sánh trong phân môn: "Luyện từ và câu" của chương trình SGK lớp 
3 phục vụ cho việc giảng dạy.
2. Thực trạng 
 2. 1. Thuận lợi
 a. Sách giáo khoa: Phân môn Luyện từ và câu được trình bày theo chủ 
điểm rất rõ ràng, mạch lạc. Đặc biệt các bài tập về biện pháp so sánh được đưa 
ra theo thứ tự từ dễ đến khó. Phân môn luyện từ và câu của lớp 3 nhìn chung 
ngắn gọn, cụ thể đã được bớt nhiều so với chương trình Từ ngữ - ngữ pháp của 
lớp 3 cũ. 
 b. Giáo viên: 
 Ban giám hiệu luôn tạo điều kiện cho công tác giảng dạy, đã tổ chức cho 
giáo viên tham gia các lớp học bồi dưỡng về công nghệ thông tin để giáo viên có 
thể sử dụng thành thạo các chương trình, các phần mềm trên máy tính. Bản thân 
giáo viên luôn luôn có ý thức học hỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực sư 
phạm, yêu nghề.
 c. Học sinh: 
 - Học sinh đã quen với cách học mới từ lớp 1,2 nên các em đã biết cách 
lĩnh hội và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
 - Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất 
lượng phân môn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung. 
 - Số lượng học sinh ít, các em học sinh đều được học 2 buổi/ngày. Sau tiết 
học lý thuyết, đều có tiết HDH để luyện tập củng cố, khắc sâu kiến thức. Từ đó 
giúp các em có khả năng sử dụng thành thạo các bài tập thực hành và áp dụng 
linh hoạt vào các phân môn khác. 
2. 2. Khó khăn 
 a. Sách giáo khoa:
 Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 hiện nay nói chung và phân môn Luyện từ 
và câu nói riêng còn tồn tại một số điểm chưa hợp lý: Mặc dù SGK đã chú trọng 
phương pháp thực hành nhưng những bài tập sáng tạo vẫn còn ít, đơn điệu, kiến 
thức dạy học sinh còn mang tính trừu tượng, thiếu hình ảnh minh hoạ nên học 
sinh còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội các kiến thức mới.
 b. Giáo viên:
 Vì bản thân là phụ nữ ngoài việc lên lớp dạy học còn phải chăm lo cho 
gia đình nên thời gian để nghiên cứu chuyên môn còn hạn chế. Một số bộ phận 
 4 Từ thực tế học sinh lớp 3A4 năm học 2011 – 2012 với những nguyên 
nhân, tôi đã tìm ra một số giải pháp sau:
3. Giải pháp
3. 1 Dạy đúng quy trình : 
 Để học sinh học tốt dạng bài so sánh . Bất cứ một bài tập nào, GV cần 
hướng dẫn học sinh làm theo các yêu cầu sau:
- Đọc kỹ đề bài
- Xác định đúng yêu cầu của bài 
- Phân tích yêu cầu của bài
- Học sinh làm bài 
- So sánh đối chiếu kết quả của học sinh với đáp án ( HS phải lí giải được đáp án 
của mình )
- GV chốt cho học sinh rõ vì sao có đáp án đó .
* Ví dụ : Bài tập 2 (Trang 8): Tìm sự vật được so sánh trong khổ thơ sau:
 Ơ cái dấu hỏi
 Trông ngộ ngộ nghê
 Như vành tai nhỏ 
 Hỏi rồi lắng nghe
- Giáo viên yêu cầu HS đọc yêu cầu của đề
- Giải thích cho học sinh hiểu từ ngữ chỉ sự vật.
- HS gạch chân bằng bút chì từ chỉ sự vật vào SGK
- Học sinh trình bày ( Giáo viên có thể hỏi vì sao để học sinh giải thích lí do lại 
sao em chọn từ đó )
- Giáo viên đưa ra đáp án 
 Sự vật được so sánh Từ so sánh Sự vật so sánh
 Cái dấu hỏi Như vành tai nhỏ
+ Giáo viên có thể vẽ lên bảng hoặc giải thích cho học sinh hiểu Dấu hỏi cong 
cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai. (Giáo viên có 
thể cho học sinh nhìn vào vành tai bạn).
* Chú ý : Phương pháp này có hiệu quả nhất là sử dụng khi tìm hiểu bài . 
 Sau khi tiến hành theo quy trình trên, tôi thấy các em đã một phần nào đó 
nắm được kiến thức về so sánh. 
3. 2. Dạy biện pháp so sánh tích hợp vào các môn học:
 Song song với việc dạy đúng theo quy trình, tôi còn kết hợp dạy biện pháp so 
sánh tích hợp vào các môn học. Cụ thể là:
 6 3. 3. 1 Dạng 1 : 
 Giúp học sinh nhận biết các từ chỉ sự vật so sánh . Dạng bài tập này rất đơn 
giản. Chủ yếu là nhận biết các sự vật so sánh thông qua các bài tập . Dạng này 
chiếm đa số trong chương trình . Nó được xây dựng dựa trên 4 mô hình sau:. 
a) Mô hình 1: So sánh: Sự vật - Sự vật.
b) Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người.
c) Mô hình 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
d) Mô hình 4: So sánh: Âm thanh - Âm thanh.
 Muốn học sinh của mình có một kĩ năng nhận biết biện pháp so sánh vững 
vàng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới . Dựa 
vào các mô hình như ta vừa phân tích .
a) Mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật: 
 Mô hình này cách nhận dạng rất dễ vì trong câu thường xuất hiện các từ so 
sánh (như, là , giống , tựa, chẳng bằng ...)
Mô hình này có các dạng sau:
 A như B.
 A là B.
 A chẳng bằng B
* Tìm hiểu dạng A như B
 Dạng này đã xuất hiện ở các bài tập đầu tiên của chương trình và xuyên 
suốt đến cuối chương.
* Ví dụ: Bài 2( SGK trang 8): Tìm sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, 
câu văn dưới đây:
 "Hai bàn tay em
 Như hoa đầu cành"
 (Huy Cận)
 "Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"
 (Vũ Tú Nam)
 "Cánh diều như dấu á
 Ai vừa tung lên trời"
 (Phạm Như Hà)
 Để làm tốt bài tập này, học sinh phải phát hiện các từ chỉ sự vật được so 
sánh từ đó học sinh sẽ tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu 
văn trên .
Có 2 phương án 
 8 - Trời mùa đông lạnh như cái tủ ướp lạnh 
 - Trời mùa hè nóng như bếp lửa lò nung
 Trong câu : Mẹ tôi là giáo viên ( từ là có tác dụng giới thiệu. Trong trường 
hợp này , học sinh phải hiểu nghĩa của từ và của câu )
b Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người. 
Dạng cuả mô hình so sánh này là:
*Dạng A như B: + A có thể là con người.
 + B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh.
Ví dụ: Bài tập 1/trang58: Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu dưới đây:
 "Trẻ em như búp trên cành
 Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan"
 (Hồ Chí Minh)
 "Bà như quả ngọt chín rồi
 Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng".
 (Võ Thanh An)
 Với dạng bài tập này học sinh sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con người 
nhưng các em chưa giải thích được"Vì sao?". Chính vì thế điều đó giáo viên 
giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:
"Trẻ em" giống như "búp trên cành". Vì đều là những sự vật còn tươi non đang 
phát triển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng.
"Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến 
độ già giặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng.
* Dạng A là B: 
Ví dụ : Bài tập 1/ trang 42,43( phương pháp dạy như mô hình 1) 
 "Ông là buổi trời chiều
 Svật 1 (người) Svật 2(Svật )
 Cháu là ngày rạng sáng"
 Svật 2( người ) Svật 2( Svật )
* Dạng A chẳng bằng B: 
Ví dụ: Bài tập 1c/trang 43 : Tìm các hình ảnh so sánh trong câu :
 Những ngôi sao thức ngoài kia
 Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
 Đêm nay con ngủ giấc tròn
 10 + "Côn Sơn suối chảy rì rầm
 Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai"
 (Nguyễn Trãi)
 Âm thanh của "Tiếng suối" được so sánh với âm thanh của "Tiếng đàn 
cầm" qua từ "như".
3. 3. 2 Dạng 2 : Bài tập sáng tạo
Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh .
 Dạng bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao hơn.Tuy nhiên, dạng bài tập 
này trong SGK rất ít . Nó tập trung ở cuối chương trình HKI gồm 2 bài tập .
a) Nhìn tranh tạo hình ảnh so sánh
Tương tự Bài tập 3/SGKtrang126: Ta có thể đưa ra bài tập sau : 
Ví dụ : Quan sát từng cặp tranh rồi viết các câu có hình ảnh so sánh 
 - Xe ô tô lao nhanh như tên bắn .
 - Bóng đèn điện toả sáng như mặt trăng.
 - Cây thông cao như ngọn tháp .
 - Nụ cười của cô ấy xinh như hoa hồng .
 - Thỏ thì hiền hơn báo.
b) Dạng bài tập điền khuyết : 
Ví dụ : Bài tập 4 / SGKtrang 126: Tìm những từ ngữ thích hợp để điền vào chỗ 
trống : 
 12 + Đôi mắt mèo đen tròn, trong veo như thuỷ tinh.
 - Xuân về, cây bàng có những lộc non trên cành như những ngọn nến 
trong xanh.
 + Xuân về, trên cành cây bàng lên những lộc non như bầy chim vỗ cánh.
 - Chiếc cặp sách có hai mặt khoá như hai con mắt mạ kền sáng long lanh.
 + Chiếc cặp sách có hai mắt khoá trông như hai con mắt sáng long lanh.
Các bài tập mang tính sáng tạo này rất ít nên trong quá trình dạy , nhất là các tiết 
Tiếng Việt (Tăng cường) Giáo viên nên đưa thêm những bài tập tương tự hai 
dạng trên để học sinh khắc sâu kiến thức . 
 Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so 
sánh: Ngang bằng và hơn kém. Kiểu so sánh này thường gặp các từ sơ sánh như 
: Tựa, giống , giống như , không thua, không khác. ( So sánh bằng ) và các từ 
hơn ,kém, thua , chẳng bằng ( so sánh hơn kém ).
3 .4 Trò chơi học tập :
 Để giờ học bớt căng thẳng, học sinh có hứng thú học tập, tôi đã đưa ra một số 
trò chơi học tập. Đây là hình thức hấp dẫn nhất trong đó chơi là phương tiện , 
học là mục đích . Thông qua hình thức chơi mà học ,học sinh sẽ được hoạt động 
, tự củng cố kiến thức .Tuy nhiên, muốn tổ chức trò chơi có hiệu quả , cần xác 
định mục đích của trò chơi, hình thức chơi cũng phải đa dạng, cách chơi cần 
phải đơn giản, dễ hiểu. 
 a. Trò chơi ghép nối:
 * Mục đích: Củng cố những kiến thức đã học, tạo điều kiện để các em 
được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế nói năng.
 * Chuẩn bị: 
 - Giáo viên chuẩn bị sẵn những băng chữ ghi 1 vế của các câu văn, câu 
thơ chứa hình ảnh so sánh (mỗi lần chơi khoảng 10 câu/1đội), bảng từ để học 
sinh gắn các vế câu lên bảng.
 - Ví dụ: 
 Tiếng ve đồng loạt cất lên như một dàn đồng ca.
 Tóc bà trắng như bông.
 Tiếng gió rừng vi vu như tiếng sáo.
 Mảnh trăng lưỡi liềm lơ lửng giữa trời như cánh diều.
 Mặt trời nhô lên đỏ rực như hòn lửa.
 Xe cộ chạy nhanh vun vút như tên bắn trên con đường nhựa.
 Hoa xoan nở từng chùm như những chùm sao.
 Sương sớm long lanh như những hạt ngọc.
 Nước cam vàng như nắng.
 Hoa phượng nở như những ngọn lửa hồng tươi.
 14

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_giup_hoc_sinh_nam_vung_bien_phap_so_sa.doc