Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phép tu từ So sánh trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 3

docx 15 trang sangkienlop3 11/03/2024 2560
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phép tu từ So sánh trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phép tu từ So sánh trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 3

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phép tu từ So sánh trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 3
 BÁO CÁO KẾT QUẢ
 NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
 1. Lời giới thiệu.
 Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, mục tiêu giáo dục tiểu học là 
“Giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho 
sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực, định hướng 
chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, 
nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt ”. Như vậy mục tiêu giáo dục tiểu học 
không chỉ chú ý chuẩn bị cho học sinh những cơ sở ban đầu “cho sự phát triển 
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản 
để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” mà còn giúp học sinh “phát triển cả về 
phẩm chất và năng lực”.
 Các bộ phận cấu thành của môn Tiếng Việt trong trường tiểu học bao gồm: 
Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Tập làm văn, Luyện từ và câu. Qua tiết Luyện từ và 
câu học sinh có khả năng diễn đạt bằng lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động mọi sắc 
thái biểu cảm. Nói và viết đó là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông 
qua đó các em thực hiện quá trình tư duy, chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng, 
tình cảm, quan điểm, giúp các em hiểu nhau hơn, cùng hợp tác trong cuộc sống. 
Vấn đề đặt ra là người giáo viên dạy Luyện từ và câu như thế nào để nâng cao 
chất lượng, đáp ứng được khả năng tiếp thu bài của học sinh, cách thức tổ chức, 
tiến hành tiết dạy Luyện từ và câu ra sao để đạt được hiệu quả như mong muốn.
 So sánh là một vấn đề mới đối với học sinh lớp 3. So sánh là cách nói rất 
quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương. Nhờ 
phép so sánh người viết có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm 
mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe. So sánh được xem là một trong 
những phương thức tạo hình hiệu quả nhất, có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời 
sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, 
đánh giá con người. Mặt khác nó còn làm cho tâm hồn và trí tuệ con người thêm 
phong phú, giúp con người cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế, sâu 
sắc hơn.
 Với mục đích hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng về nhận thức, 
về biểu cảm, phối hợp ấn tượng thính giác với ấn tượng thị giác để nhận ra hiện 
tượng so sánh ẩn chứa trong câu văn, câu thơ; Cung cấp cho học sinh những kiến 
thức sơ giản về biện pháp so sánh; Trang bị cho học sinh một số hiểu biết và kĩ 
năng phục vụ học tập, kĩ năng giao tiếp cần thiết trong cuộc sống hàng ngày; Bồi 
dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng 
Việt và nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tôi đã mạnh dạn đưa ra 
ý tưởng “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phép tu từ So sánh trong 
phân môn Luyện từ và câu lớp 3”.
 2. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phép tu từ So 
sánh trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3”. 3
 - Các bài tập thường là những bài tập trừu tượng, giáo viên phải hướng dẫn 
mẫu một phần bài tập, học sinh phải biết tư duy để làm được các phần bài tập còn 
lại. 
 - Thêm một thực tế nữa là các loại sách tham khảo tràn lan trên thị trường, 
nhiều cha mẹ mua cho con để tham khảo nhưng nhiều bạn ung dung chép vào vở 
nếu cần, mà không phải mất quá nhiều thời gian suy nghĩ để làm bài. Các em 
không hiểu việc làm đó dẫn đến hậu quả lớn, nó làm cho não bộ của các em ít phát 
triển dần trở nên lười nhác.
 - Giáo viên đôi lúc còn giảng dạy theo phương pháp cũ, việc phân chia thời 
lượng lên lớp ở môn dạy đôi khi còn dàn trải, hoạt động của cô trò có lúc thiếu 
nhịp nhàng, nặng tính hình thức.
 - Học sinh chưa có ý thức tự giác trong học tập. Khả năng phân tích tổng 
hợp, so sánh hoặc giao tiếp còn hạn chế, thiếu tự tin. Các em còn tật xấu ít tập 
trung chú ý nghe giảng, thường thụ động tiếp thu bài.
 7.1.2. Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phép tu từ So sánh trong 
phân môn Luyện từ và câu lớp 3.
 * Biện pháp 1: Nghiên cứu kĩ chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 3
 - Giáo viên cần nghiên cứu kĩ cấu trúc, nội dung, cách thể hiện nội dung về 
biện pháp tu từ so sánh trong sách giáo khoa, về mức độ yêu cầu chuẩn kiến thức 
và kĩ năng cơ bản của mạch kiến thức này. Từ đó tìm ra phương pháp dạy học 
thích hợp giúp học sinh tích cực chủ động nắm chắc kiến thức.
 - Nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong chương trình lớp 3 được học 
trong 8 tiết ở học kì I, cứ 2 tuần 1 tiết, chiếm khoảng 1/5 tổng số thời gian của 
chương trình học kì 1. Cụ thể như sau:
 Tuần Chủ điểm Nội dung dạy học Trang
 1 Măng non Làm quen với phép so sánh 8
 3 Mái ấm Tìm hình ảnh so sánh và tìm các từ chỉ 24
 sự so sánh
 5 Tới trường So sánh hơn kém, cách thêm các từ so 43
 sánh vào những câu chưa có từ so sánh
 7 Cộng đồng So sánh sự vật với con người 58
 10 Quê hương Làm quen so sánh âm thanh với âm 79
 thanh
 12 Bắc - Trung - Nam So sánh hoạt động với hoạt động 98
 15 Anh em một nhà Đặt câu có hình ảnh so sánh 126
 18 Ôn tập cuối học kì 1 Luyện tập 148
 5
 - Giáo viên chốt lại lời giải đúng.
 Câu a) Hai bàn tay em được so sánh với hoa đầu cành.
 Câu b) Mặt biển được so sánh với tấm thảm khổng lồ (tấm thảm khổng lồ 
bằng ngọc thạch).
 Câu c) Cánh diều được so sánh với dấu “á”.
 Câu d) Dấu hỏi được so sánh với vành tai nhỏ.
 Giáo viên kết hợp nêu câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ, trả lời để hiểu vì sao các 
sự vật nói trên được so sánh với nhau.
 * Biện pháp 3: Giúp học sinh nắm vững các dạng bài tập về biện pháp 
tu từ so sánh.
 Dạng 1: Bài tập nhận biết biện pháp tu từ so sánh.
 Đây là kiểu bài tập giúp học sinh bước đầu nắm được cấu trúc của biện 
pháp so sánh. Với yêu cầu tìm những sự vật được so sánh với nhau, các em sẽ tìm 
ra cái so sánh và cái được so sánh. Những sự vật đưa ra so sánh tồn tại xung quanh 
các em, gần gũi và quen thuộc đối với cuộc sống của các em, giúp các em dễ dàng 
liên tưởng đến sự tương đồng giữa chúng. Dạng bài tập này chiếm đa số trong 
chương trình và có 3 dạng nhỏ sau:
 * Dạng bài “Tìm những sự vật được so sánh”.
 Đây là dạng bài tập chiếm số lượng lớn trong chương trình học giúp học 
sinh bước đầu nắm được cấu trúc của phép so sánh. Với yêu cầu tìm những sự vật 
được so sánh với nhau các em sẽ tìm ra “cái so sánh” và “cái được so sánh” trong 
phép so sánh. Đây là những sự vật tồn tại xung quanh các em, gần gũi và quen 
thuộc đối với cuộc sống của các em, giúp các em dễ dàng liên tưởng đến sự tương 
đồng giữa chúng. Với dạng bài này ta có các mô hình sau:
 a) Mô hình 1: So sánh sự vật với sự vật.
 Ví dụ:
 Hai bàn tay em
 Như hoa đầu cành
 Hoa hồng hồng nụ
 Cánh trong ngón xinh.
 (Bài 2, trang 8, SGK TV3, tập 1)
 Để làm tốt bài tập này, HS phải nắm chắc được các từ chỉ sự vật, từ đó các 
em sẽ tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn trên là: “Hai 
bàn tay em” so sánh với “hoa đầu cành”
 Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao “Hai bàn tay em” được so sánh với 
“hoa đầu cành”? lúc đó giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm xem các sự vật so 
sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng hạn: Hai bàn tay của bé nhỏ xinh 7
 (Ngô Viết Dinh)
 Dạng bài tập này, GV yêu cầu HS tạo lập các hình ảnh, các câu thơ sử dụng 
biện pháp nghệ thuật so sánh dựa trên ngữ liệu có sẵn hoặc một phần do học sinh 
tự tạo lập.
 Hoạt động “vươn” của tàu lá cau giống hoạt động “vẫy” tay của con người.
 d) Mô hình 4: So sánh âm thanh với âm thanh.
 * Ví dụ: Tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong mỗi câu thơ, 
câu văn dưới đây:
 “Côn Sơn suối chảy rì rầm
 Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”
 (Nguyễn Trãi)
 Với dạng bài tập này, GV giúp HS nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm 
thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ “như”.
 Chẳng hạn: “Tiếng suối chảy” được so sánh với “tiếng đàn cầm” qua từ 
“như”
 Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so 
sánh:
 + So sánh ngang bằng:
 Từ so sánh: là, như, giống, tựa, tựa như, như là, giống hệt, như thể, ..
 * Ví dụ 1: Nhìn từ xa những mảng tường vàng, ngói đỏ như những cánh 
hoa lấp ló trong cây. 
 Từ so sánh là như.
 * Ví dụ 2: 
 Mắt hiền sáng tựa vì sao
 Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.
 Từ so sánh là tựa.
 Cũng có khi so sánh ngang bằng không dùng từ so sánh mà dùng dấu câu 
như dấu gạch ngang, dấu hai chấm.
 * Ví dụ: 
 “Thân dừa bạc phếch tháng năm
 Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao
 Đêm hè, hoa nở cùng sao
 Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh.”
 (Trần Đăng Khoa)
 + So sánh không ngang bằng (So sánh hơn kém) 9
 “Trường Sơn: chí lớn ông cha
 Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào.”
 * Dạng bài “Tìm các từ so sánh”.
 Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta thường dùng từ như khi muốn so sánh 
một thứ gì đó. Chẳng hạn đẹp như tiên, xấu như ma, hiền như bụt... Tuy nhiên, 
trong phép tu từ so sánh có rất nhiều những từ dùng để so sánh như: là tựa, giống, 
như thể, như là,... Để giúp các em nhận ra được sự phong phú, đa dạng cũng như 
sự tinh tế của so sánh tu từ, sách giáo khoa đã cung cấp cho các em dạng bài tập 
tìm các từ so sánh.
 Ví dụ: Bài 2 (SGK TV2, tập 1 trang 25) Hãy ghi lại các từ chỉ sự so sánh 
trong những câu sau:
 Mắt hiền sáng tựa vì sao
 Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.
 Dạng 2: Bài tập vận dụng biện pháp tu từ so sánh (Bài tập sáng tạo)
 Dạng bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao, tuy nhiên dạng bài tập này 
trong SGK rất ít. Nó tập trung ở cuối chương trình học kì 1. Giúp học sinh biết 
cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Dạng bài này có 2 kiểu bài tập nhỏ đó là tập 
nhận biết tác dụng của biện pháp tu từ so sánh và tập đặt câu có dùng biện pháp 
so sánh.
 * Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh
 Để nhận biết được tác dụng của phép so sánh, bài tập đã mở ra cho học sinh 
một hướng tiếp nhận mới đó là tự mình đưa ra những đánh giá, những nhận xét 
của riêng mình dưới dạng như phát biểu cảm nghĩ. Chính vì mọi so sánh đều mang 
đậm dấu ấn cá nhân của người so sánh nên mỗi học sinh sẽ có một cách cảm thụ 
của riêng mình.
Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau:
 Đã có ai lắng nghe
 Tiếng mưa trong rừng cọ
 Như tiếng thác dội về
 Như ào ào trận gió
 Qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng mưa trong rừng cọ ra sao? 
 (TV3, tập 1, trang 80)
 * Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh
 Đây là yêu cầu cao nhất mà các em phải thực hiện khi học phép so sánh. 
Với những kiến thức đã được học, cộng với sự tri giác qua các bức tranh học sinh 
sẽ tìm được sự giống nhau giữa các sự vật trong tranh từ đó viết ra những câu có 11
 Hoa xao xuyến nở
 Như mây từng chùm.”
 (Tô Hà) 
 GV cho các em bước đầu cảm nhận được trong mỗi hình ảnh so sánh các 
sự vật đều có những nét tương đồng (đặc điểm giống nhau) bằng cách sử dụng 
máy chiếu đưa hình ảnh động hoặc tranh ảnh hoa xoan, mây cho học sinh quan 
sát. Trên thực tế có nhiều học sinh chưa được nhìn thấy hoa xoan. Do vậy hình 
ảnh hoa xoan – mây sẽ giúp học sinh thấy được đặc điểm giống nhau giữa hai sự 
vật và qua đó cảm nhận được cái hay, cái đẹp. Hoa xoan nhỏ li ti, màu tím ngắt, 
nở thành chùm. Khi hoa xoan nở rộ gợi cho chúng ta cảm giác chúng như những 
chùm mây tím xốp đang bồng bềnh trôi.
 * Biện pháp 5: Sử dụng trò chơi học tập.
 Đây là hình thức hấp dẫn nhất trong đối với học sinh. Thông qua hình thức 
chơi mà học, học sinh sẽ được hoạt động, tự củng cố kiến thức, gây hứng thú học 
tập, góp phần làm cho tiết học sinh động.
 Yêu cầu khi xây dựng trò chơi học tập:
 * Về mục đích: Trò chơi phải hướng vào việc củng cố kiến thức về phép tu 
từ so sánh, rèn luyện kĩ năng vận dụng phép so sánh trong giao tiếp.
 * Về nội dung: Trò chơi phải chứa nội dung về phép so sánh. Thực chất, 
đây là những bài tập vui và nhẹ nhàng về phép so sánh.
 * Hình thức chơi: Các trò chơi thường được tiến hành thi theo nhóm hay cả 
lớp tuỳ vào nội dung trò chơi. Trò chơi có thể do giáo viên hướng dẫn hoặc do 
học sinh tự tổ chức, góp phần rèn luyện tinh thần tập thể và sự hỗ trợ lẫn nhau 
trong học tập.
 * Về cách chơi: Cách chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.
 Tuỳ hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh 
thực hiện trò chơi đơn giản (không cần chuẩn bị công phu) hay trò chơi có phần 
phức tạp (phải chuẩn bị trước) song phải đạt đựoc cái đích cuối cùng là củng cố 
kiến thức và tăng hứng thú học tập.
 Ví dụ: Trò chơi Thử tài so sánh
 Trò chơi này được tiến hành sau khi học xong bài Luyện từ và câu tuần 15, 
(TV3, tập 1, trang 124) (Phần củng cố).
 * Mục đích:
 - Rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ bằng cách tạo nhanh các cụm từ có hình ảnh 
so sánh đúng
 - Luyện phản ứng nhanh, trau dồi trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng.
 * Chuẩn bị:

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hoc_tot.docx