Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng nhận biết biện pháp so sánh và nhân hóa cho học sinh Lớp 3

docx 19 trang sangkienlop3 06/12/2023 1910
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng nhận biết biện pháp so sánh và nhân hóa cho học sinh Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng nhận biết biện pháp so sánh và nhân hóa cho học sinh Lớp 3

Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng nhận biết biện pháp so sánh và nhân hóa cho học sinh Lớp 3
 BÁO CÁO KẾT QUẢ
 NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
 1. Lời giới thiệu
 Như chúng ta đã biết, Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời 
sống cộng đồng. Với cộng đồng, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Đối với 
trẻ em, nó càng có vai trò quan trọng. K.A.Usinxki đã chỉ rõ: “Trẻ em đi vào 
trong đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó duy nhất thông qua 
phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh 
trong nó chỉ thông qua chính công cụ này” Và Tiếng Việt là tiếng nói phổ 
thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc anh 
em trên đất nước Việt Nam. 
 Bởi vậy, chương trình tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 ở Tiểu học không chỉ 
coi trọng dạy học tiếng Việt mà luôn coi nhiệm vụ bồi dưỡng năng lực cảm thụ 
văn học cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Dưới sự hướng 
dẫn của các thầy giáo, cô giáo những bài thơ, bài văn trong sách giáo khoa sẽ 
đem đến cho các em bao nhiêu điều kì lạ và hấp dẫn. Tuy nhiên, muốn trở thành 
một học sinh có năng lực cảm thụ văn học tốt, mỗi em phải tự giác phấn đấu và 
rèn luyện về nhiều mặt. Để có được năng lực cảm thụ văn học sâu sắc và tinh tế, 
cần có sự say mê, hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn, chịu khó tích lũy vốn hiểu 
biết về thực tế cuộc sống và văn học; nắm vững kiến thức cơ bản về Tiếng Việt 
phục vụ cảm thụ văn học. 
 Rèn luyện để nâng cao năng lực cảm thụ văn học là một trong những nhiệm 
vụ cần thiết đối với học sinh Tiểu học. Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các em 
sẽ cảm nhận được những nét đẹp của văn thơ, được phong phú hơn về tâm hồn, 
nói - viết Tiếng Việt thêm trong sáng và sinh động. Trong quá trình giảng dạy, 
tôi thấy Sách giáo khoa tiếng Việt lớp 3 hiện nay nói chung và phân môn Luyện 
từ và câu nói riêng, còn một số điểm chưa hợp lý: mặc dù sách giáo khoa đã chú 
trọng phương pháp thực hành nhưng những bài tập sáng tạo vẫn còn ít, đơn điệu, 
kiến thức dạy học sinh còn mang tính trừu tượng, thiếu hình ảnh minh hoạ nên 
học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội các kiến thức mới.
 Cũng như các loại từ, học sinh không cần nắm được các khái niệm so sánh 
hay nhân hóa. Tuy nhiên, các em có thể nhận biết được các biện pháp này dưới 
dạng cụ thể, đồng thời bước đầu ý thức được hiệu quả của chúng đối với hoạt 
động giao tiếp cũng như khi làm văn.
 1 Rèn kỹ năng nhận biết biện pháp so sánh và nhân hóa cho học sinh lớp Ba
 3. Tác giả sáng kiến
 - Họ và tên: Phạm Thị Minh Huệ
 - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Hoàng Lâu, huyện Tam 
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
 Số điện thoại: 0989478220
 - Email: phamthiminhhue.c1hoanglau@vinhphuc.edu.vn
 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
 Phạm Thị Minh Huệ - Giáo viên Trường Tiểu học Hoàng Lâu, huyện Tam 
 Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
 Môn Tiếng Việt.
 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu
 Tháng 9/2018
 7. Mô tả bản chất của sáng kiến
 7.1. Nghiên cứu lý luận để nâng cao nhận thức của giáo viên
 Chúng ta biết rằng, trong thời đại bùng nổ thông tin, lượng tri thức mà con 
người đúc kết lại ngày càng tăng và tăng rất nhanh. Kết quả không phải tự nhiên 
mà có, nó do một quá trình học hỏi tìm tòi tích lũy, gian khó mà ra. Ông bà ta có 
câu “Văn ôn võ luyện”. Những kiến thức chúng ta có được mà không được mài 
giũa, củng cố, bổ sung thì nó sẽ mai một đi. Chúng ta cũng vậy, giáo viên chứ có 
phải thánh đâu mà cái gì cũng biết, cũng nhớ. Do vậy, để giảng dạy cho học sinh 
được tốt hơn, ngoài việc nghiên cứu ở sách giáo khoa tôi còn tìm hiểu thêm 
nhiều sách tham khảo, sách nâng cao, cảm thụ văn học, Tôi còn thường xuyên 
lên mạng xem những bài giảng điện tử, tìm hiểu các phương pháp, cách dạy hay 
và áp dụng đổi mới phương pháp dạy trên cơ sở phát huy tính tích cực của học 
sinh. Không những có thêm phương pháp mới mà tôi còn tích lũy ngày càng 
nhiều kinh nghiệm dạy học, ứng xử sư phạm trong các tình huống khác nhau, rất 
cần cho việc giảng dạy. Chúng ta đều biết rằng, học sinh Tiểu học rất hiếu động 
nếu không sử dụng nhiều biện pháp dạy học thì học sinh sẽ nhàm chán, mất tập 
trung. Mà mất tập 
 3 Phương pháp thực hành nó rèn luyện kĩ năng và khả năng giao tiếp tiếng 
Việt cho các em.
 Ví dụ bài Tuần 28: Tìm xem cây cối và sự vật tự xưng là gì?
 Sau khi cho các em tìm được Cây lục bình tự xưng là tôi, Chiếc xe lu tự 
xưng
là tớ. Tôi cho các em thực hành làm bài vào vở và tìm thêm các câu văn, bài thơ 
hay
 một câu em tự nghĩ ra có các sự vật tự xưng như người ở trong bài:
 + Tôi là Dế mèn, tôi đi chu du khắp thiên hạ
 + Tớ là chiếc bút mực, cậu đừng vứt tớ đi.
 + Mình là sách cậu học, sao cậu làm nhàu nó.
 Những bài tập thực hành, tôi áp dụng thường xuyên trong tất cả các tiết 
dạy.
 7.2. Phân tích phân phối chương trình Tiếng Việt lớp Ba
 - Để giảng dạy tốt hơn, tôi nghiên cứu, phân tích các biện pháp tu từ nhân 
hóa, so sánh trong phân môn “Luyện từ và câu” của chương trình lớp Ba. Toàn 
bộ kiến thức lý thuyết thực hành về tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương 
trình lớp Ba ở phân môn “Luyện từ và câu” gồm các bài nói về mô hình sau:
 7.2.1 So sánh
 - Mô hình 1: So sánh: Sự vật - Sự vật
 - Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người
 - Mô hình 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động
 - Mô hình 4: So sánh: Âm thanh - Âm thanh
 + Thể hiện ở các tuần: Tuần 1, tuần 3, tuần 5, tuần 7, tuần 10, tuần 12, tuần 
15 và tuần ôn tập 18.
 7.2.2. Nhân hóa
 - Mô hình 1: Gọi tên các sự vật đó bằng những từ thường để gọi con người.
 - Mô hình 2: Gọi sự vật một cách gần gũi, thân mật.
 - Mô hình 3: Tả sự vật bằng những từ thường dùng để tả người.
 + Thể hiện ở các tuần: Tuần 19, tuần 21, tuần 23, tuần 25, tuần 28 và tuần 
ôn tập 27.
 5 7.3. Hướng dẫn học sinh nhận biết các biện pháp thông qua mô hình vừa 
phân tích.
 Muốn học sinh của mình có một kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ vững 
vàng, đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới, dựa 
vào các mô hình vừa phân tích.
 7.3.1. So sánh.
 - Mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật:
 Mô hình này cách nhận dạng rất dễ vì trong câu thường xuất hiện các từ so 
sánh (như, là, giống, tựa, chẳng bằng...)
 Mô hình này có các dạng sau: A như B. A là B. A chẳng bằng B
 Dạng này đã xuất hiện ở các bài tập đầu tiên của chương trình và xuyên 
suốt đến cuối chương.
 * Ví dụ: Tuần 1: Bài 2 (SGK trang 8): Tìm sự vật được so sánh với nhau 
trong các câu thơ, câu văn dưới đây:
 "Hai bàn tay em "Cánh diều như dấu á
 Như hoa đầu cành" Ai vừa tung lên trời"
 (Huy Cận) (Phạm Như Hà)
 "Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"
 (Vũ Tú Nam)
 Để làm tốt bài tập này, tôi cho học sinh phát hiện các từ chỉ sự vật được so 
sánh, từ đó các em sẽ tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu 
văn trên. Tôi giải thích cho học sinh điểm tương đồng giữa các từ chỉ sự vật 
được so sánh.
 * Tôi sử dụng 2 phương án.
 Phương án 1: Gạch chân các từ chỉ sự vật so sánh trong các câu trên bằng 
bút chì vào VBT.
 Phương án 2: Tôi cho các em thảo luận nhóm đôi. Các nhóm thảo luận rồi 
điền vào vở:
 Sự vật 1 Từ so sánh Sự vật 2
 Hai bàn tay như hoa đầu cành
 7 "Bà như quả ngọt chín rồi
 Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng".
 (Võ Thanh An)
 Với dạng bài tập này học sinh sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con người 
nhưng các em chưa giải thích được "Vì sao?". Chính vì điều đó, tôi giúp học 
sinh
tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người. Chẳng hạn:
 "Trẻ em" giống như "búp trên cành". Vì đều là những sự vật còn tươi non 
đang phát triển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng.
 "Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển 
đến
 độ già có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng.
 - Mô hình 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
 Mô hình này có dạng như sau: A x B. A như B.
 Ví dụ bài tập 2/ trang 98, tuần12: Trong các đoạn trích sau, những hoạt 
động nào được so sánh với nhau:
 + "Con trâu đen lông mượt Nó cao lớn lênh khênh
 Cái sừng nó vênh vênh Chân đi như đạp đất"
 (Trần Đăng Khoa)
 + "Cau cao, cao mãi Như tay ai vẫy
 Tàu vươn giữa trời Hứng làn mưa rơi"
 (Ngô Viết Dinh)
 Dạng bài này, tôi giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó các 
em sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau. Chẳng hạn:
 + Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như".
 + Hoạt động “Vươn” của tàu lá dừa giống hoạt động “vẫy” tay của con 
người.
 - Mô hình 4: So sánh: Âm thanh - Âm thanh:
 A là âm thanh thứ 1. B là âm thanh thứ 2.
 Ví dụ: (Tuần 14: Bài tập 2, trang 117): Tìm những âm thanh được so sánh 
với nhau trong mỗi câu thơ, văn dưới đây:
 9 + như bôi mỡ, xà phòng, đổ dầu... núi, những ngọn tháp...
 Các bài tập mang tính sáng tạo này rất ít nên trong quá trình dạy, tôi đưa 
thêm những ví dụ tương tự hai dạng trên để học sinh khắc sâu kiến thức.
 Lá cọ tròn xòe ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như
 Những con ngựa lao nhanh trên đường đua tựa như.
 Ánh mắt dịu hiền của mẹ là..
 Đôi mắt bé tròn như
 Trưa hè, tiếng ve như..
 Ngoài các mô hình so sánh trên, học sinh còn được làm quen với kiểu so 
sánh: Ngang bằng và hơn kém. Kiểu so sánh này thường gặp các từ so sánh như: 
Tựa, giống, giống như, không thua, không khác. (So sánh ngang bằng) và các từ 
hơn, kém, thua, chẳng bằng (so sánh hơn kém).
 7.3.2. Nhân hóa
 - Mô hình 1: Gọi tên các sự vật đó bằng những từ thường để gọi con người:
 Tuần 19: Bài 1 trang 8 sách giáo khoa: Đọc hai khổ thơ dưới đây và trả lời câu hỏi:
 Mặt trời gác núi Theo làn gió mát
 Bóng tối lan dần Đóm đi rất êm,
 Anh Đóm chuyên cần Đi suốt một đêm
 Lên đèn đi gác. Lo cho người ngủ.
 Võ Quảng
 Tôi hướng dẫn các em tìm các từ chỉ sự vật, tìm các từ thường dùng để gọi
 người (anh), con vật nào được gọi như gọi người (đom đóm). Từ đó, dẫn 
dắt
học sinh đến kết luận: Con đom đóm trong bài thơ được gọi bằng “anh” là dùng 
để gọi người, tính nết và hoạt động của đom đóm được tả bằng những từ ngữ, 
tính nết và hoạt động của con người. Như vậy, con đom đóm đã được nhân hóa. 
Tôi còn hướng dẫn cho các em tìm các ví dụ trong các câu thơ có các con vật 
được gọi như gọi người.
 - Mô hình 2: Gọi sự vật một cách gần gũi, thân mật.
 Tuần 21: Bài 1, 2 trang 26, 27 sách giáo khoa
 Chị mây vừa kéo đến Tớ là chiếc xe lu
 11 A B
 giống một người bạn ngồi trong vườn cây.
 Làn gió 
 giống một bạn nhỏ mồ côi.
 Sợi nắng 
 giống một người gầy yếu.
 Gần như 100% học sinh làm tốt các dạng bài tập này.
 Và từ gợi ý trên, học sinh đã làm tốt câu hỏi tiếp theo là Tình cảm của tác 
giả bài thơ dành cho những người này như thế nào? (Tác giả bài thơ rất yêu 
thương, thông cảm với những đứa trẻ mồ côi, cô đơn; những người ốm yếu 
không nơi nương tựa.)
 7.4. Tích hợp lồng ghép vào các phân môn học khác.
 Như chúng ta biết, kiến thức thì mênh mông vô tận mà mỗi học kì, các em 
chỉ học các biện pháp tu từ này có mấy bài và mỗi bài chỉ có 1 hoặc nhiều nhất 
là 2 bài tập. Nếu cứ học như thế này thì bao giờ các em mới có được một số vốn 
từ hay để giao tiếp. Chính vì vậy, để các em có thêm một số vốn từ, tôi đã lồng 
ghép “Luyện từ và câu” vào trong các phân môn đã học, vừa sức với các em.
 7.4.1. Tích hợp trong phân môn Tập đọc
 Khi dạy Tập đọc tôi chú trọng cho các em luyện đọc, đọc và tìm hiểu nội 
dung
bài. Bên cạnh đó, tôi hướng dẫn các em tìm thêm các biện pháp tu từ được sử 
dụng trong bài Tập đọc.
 Ví dụ: Bài “Hai bàn tay em”
 Tìm câu văn có hình ảnh so sánh: “Hai bàn tay em. Như hoa đầu cành”. 
Ngoài câu trên còn có hình ảnh so sánh nào nữa ? Em thấy sự vật nào, giống sự 
vật 
nào trong khổ thơ thứ ba “Răng trắng hoa nhài. Tóc ngời ánh mai” (So sánh 
ngầm
không có từ so sánh).
 Bài “Ông ngoại”
 Câu có hình ảnh so sánh “Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông 
trong, trôi lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.
 13

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_ren_ki_nang_nhan_biet_bien_phap_so_san.docx