Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 3
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 3

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĂN CHẤN TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN THỊNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “RÈN KỸ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP BA” Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thúy Chức vụ: Giáo viên, tổ phó chuyên môn Tổ chuyên môn: Khối 2+3 Trường: Tiểu học Sơn Thịnh Văn Chấn, tháng 02 năm 2018 - 1 - PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm: Như chúng ta đã biết, Đảng ta nhận định: “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Nền tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu trúc bền vững và phát triển hài hòa. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học là nhằm hình thành cho học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể chất, tình cảm và các kĩ năng cơ bản. Giáo dục tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai đoạn mới. Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn học “Tiếng Việt”, là rèn luyện kĩ năng nghe và viết chính tả, kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng Tiếng Việt và phát triển tư duy cho học sinh. Nó giúp mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người, góp phần hình thành nhân cách con người mới, phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh trong đó có năng lực chữ viết. Phân môn Chính tả có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững các quy tắc chính tả, hình thành năng lực và thói quen viết đúng, nhanh và đẹp. Qua phân môn này còn giúp các em có một số phẩm chất như: Tính kỉ luật, tính cẩn thận và óc thẩm mĩ Đồng thời bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt. Muốn viết đúng được câu văn, đoạn văn thì trước hết học sinh cần viết đúng đơn vị từ. Việc hướng dẫn cho các em nắm vững các quy tắc chính tả sẽ hình thành kĩ năng viết đúng đơn vị từ cho học sinh. Khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện học tốt các môn học khác, và trên cơ sở đó các em rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả. Trong suy nghĩ và giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, người xưa thường nói: “Nét chữ nết người - Văn hay chữ tốt”. Quả thật, khi viết chữ không tốt thì văn không thể hay được. Do vậy, việc nghiên cứu phương pháp để dạy tốt phân môn Chính tả là một việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt ở trường tiểu học. Chính tả được hiểu là hệ thống quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn - 3 - Với mong muốn hạn chế đến mức tối đa việc học sinh viết sai chính tả và học tốt các môn học khác ở lớp, bản thân tôi cố gắng vận dụng nhiều phương pháp, nhiều hình thức để giảng dạy nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển và hoàn thiện kĩ năng viết đúng Tiếng Việt chuẩn mực theo hướng “giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt”. Trong đó, nhà trường là môi trường quan trọng đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chuẩn hóa ngôn ngữ và chữ viết. Rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh là một công việc mang tính lâu dài và liên tục, rèn cho các em ý thức, thói quen và hoàn thiện kĩ năng viết đúng chính tả nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt. Việc học sinh luyện kĩ năng viết đúng chính tả không chỉ để học tốt môn Chính tả mà còn dùng nó để phục vụ cho các môn học khác. Dạy Chính tả là rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết thành thạo chữ Tiếng Việt theo các chuẩn chính tả và làm bài tập. Qua đó rèn các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, cung cấp cho học sinh vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống. 2. Thực trạng của vấn đề. a/ Thuận lợi, khó khăn: - Được sự chỉ đạo và quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong công tác giảng dạy. Bên cạnh đó còn có sự trợ giúp của tổ chuyên môn cùng đồng nghiệp, luôn trao đổi, rút kinh nghiệm trong các tiết dự giờ, thao giảng nhằm tìm ra những biện pháp hay để cùng nhau học hỏi. - Chương trình phân môn Chính tả - Sách giáo khoa Tiếng việt 3 có nội dung phong phú, hấp dẫn; mỗi bài văn, đoạn văn, bài thơ viết chính tả đều có tính giáo dục cao. - Về phía học sinh, đa số các em chăm ngoan, có ý thức, tự tin trong học tập và đã biết viết chính tả từ năm học lớp 1 và lớp 2. - Trong giảng dạy, giáo viên vận dụng đổi mới phương pháp dạy học, có sử dụng đồ dùng học tập trong giảng dạy, bài soạn phù hợp với đối tượng học - 5 - điều kiện tốt cho con em mình học tập. Các em chưa biết sắp xếp thời gian tự bồi dưỡng và học tập tại nhà. Do đó, việc học của các em còn gặp nhiều hạn chế. d/ Phân tích, đánh giá các vấn đề: - Được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong công tác giảng dạy. Tổ chuyên môn thường xuyên tổ chức các buổi dự giờ, hội giảng, học tập chuyên đề nhằm tạo điều kiện cho giáo viên được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Giáo viên soạn bài đầy đủ theo tinh thần đổi mới, nghiên cứu bài kĩ trước khi đến lớp và sử dụng đồ dùng trong giảng dạy. Nhà trường cung cấp tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất cũng như đồ dùng dạy học nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy. Việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên giúp học sinh phát triển tư duy và sáng tạo. - Chương trình Sách giáo khoa Tiếng việt 3 có nội dung của phân môn Chính tả phong phú, hấp dẫn có tính giáo dục cao. - Đa số học sinh chăm chỉ, luôn có ý thức trong học tập, yêu thích phân môn Chính tả. Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, dụng cụ học tập. Phần đông các em đã biết đọc lưu loát, thành thạo và nắm được nội dung bài Chính tả cũng như luật chính tả. 3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. 3.1/ Mục tiêu của giải pháp, biện pháp: - Rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả. - Kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, củng cố nghĩa từ. Phát triển một số thao tác tư duy cho học sinh. Bồi dưỡng cho học sinh một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm. 3.2/ Nội dung và cách thức thực hiện: Từ những biện pháp đã trải nghiệm, qua sự học hỏi từ bạn bè đồng nghiệp cũng như dựa vào tìm hiểu, điều tra, cập nhật tình hình học sinh của lớp, tôi đưa ra cách rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3 với các biện pháp thực hiện như sau: - 7 - âm r đọc cong lưỡi, lấy hơi, âm gi đọc xì hơi ra), âm chính, âm cuốiNgoài ra tôi còn chọn một số học sinh có giọng phát âm tương đối chuẩn để đọc mẫu trước lớp và hỗ trợ tôi trong việc rèn phát âm cho các bạn trong lớp. Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà còn phải thực hiện thường xuyên, liên tục và lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn,Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm (nói ngọng, nói lắp,) thì giáo viên lưu ý nhiều hơn, cho các em chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng. Vì vậy giáo viên phải phát âm rõ ràng, tốc độ đọc vừa phải để học sinh viết đúng chính tả. * Phân tích, so sánh: Kĩ năng phân tích, so sánh có vai trò rất quan trọng, nó quyết định học sinh có viết đúng chính tả hay không. Để có được kĩ năng này các em phải hiểu nghĩa của từ. Từ đó các em mới phân biệt được các từ mang nghĩa khác nhau. Với những từ ngữ khó, dễ nhầm lẫn tôi hướng dẫn phân tích cấu tạo tiếng, so sánh các tiếng đó với nhau để tìm ra những điểm khác nhau. Ví dụ: Tiếng “dành” và “giành” - dành: âm d - vần anh - thanh huyền. Nghĩa là khi ta muốn giữ lại cái (điều) gì đó. Ví dụ: dành dụm, để dành, - giành: âm gi - vần anh - thanh huyền. Nghĩa là nói đến sự nỗ lực, cố gắng để đạt được điều gì đó. Ví dụ: giành giải thưởng, giành giựt, Bên cạnh đó, tôi còn sử dụng đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, vật thật, nhằm để phát huy tính tích cực, kích thích sự tò mò, tư duy tìm hiểu của học sinh. * Giải nghĩa từ: Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Chính tả. Ngoài ra nó còn có trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc và Tập làm văn. Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh hiểu. Có thể cho các em đọc phần chú giải, đặt câu, (nếu học sinh đặt câu đúng có nghĩa là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng - 9 - * Quy tắc ghi phụ âm đầu: + Qui tắc viết: k/c/q Được ghi bằng ba hình thức khác nhau, nhưng phổ biến nhất là bằng chữ cái c. - C viết trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, uô, ưa. Ví dụ: cái ca, căn dặn, cái cân, nằm co, cô giáo, cơ quan, ông cụ, cử tạ, cuộc đua, cái cưa - K viết trước nguyên âm i, e, ê, iê, ia. Ví dụ: kỉ niệm, thước kẻ, truyện kể, kiên cố, ngoài kia - Q viết trước âm đệm u được ghi bằng q Ví dụ: quả cam, cơ quan, quên làm, yêu quý + Qui tắc viết g, gh: - G viết trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư Ví dụ: con gà, cố gắng, xa gần, gõ cửa, gốc cây, gờ, gụ, củ gừng - Gh viết trước các nguyên âm i, e, ê Ví dụ: ghi nhớ, ghé vào, cái ghế + Qui tắc viết ng, ngh : - Ng viết trước nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, ưa, ưu Ví dụ: té ngã, ngăn tủ, ngân hàng, rau ngò, bỡ ngỡ, đi ngủ, cá ngừ, con ngựa, ngưu - Ngh viết trước nguyên âm: e, ê, i, iê, eo Ví dụ: lắng nghe, củ nghệ, nghỉ hè, nghiêng nghiêng, nhà nghèo + Mẹo nhóm nghĩa ch/ tr: - Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết là ch Ví dụ: cha, chú, chị, cháu, chồng, - Những từ chỉ đồ vật trong gia đình và tên con vật đều bắt đầu bằng ch Ví dụ: chai, chum, chén, chổi, chảo, chiếu, chuông, chiêng, chuột, chồn, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chích chòe, chèo bẻo, chìa vôi, - Những từ chỉ vị trí viết là tr Ví dụ: trên, trong, trước, Ví dụ: Bài tập: Chọn tr hay ch điền vào chỗ trống: - 11 - Ví dụ: quang đãng, hành quân, - U đứng trước các nguyên âm â, ê, y, yê, ya: Ví dụ: huân chương, luân chuyển, hoa huệ, trí tuệ, huy chương, lũy tre, luyện tập, câu chuyện, trời khuya, - O đứng trước các nguyên âm a, ă, e: Ví dụ: cái loa, bông hoa, khỏe khoắn, tóc xoăn, sức khỏe, xòe tay, + Quy tắc viết một số nguyên âm là âm chính: - Nguyên âm a khi đứng trước y và u Ví dụ: hát hay, bàn tay, hoa cau, bà cháu, + Quy tắc viết nguyên âm đôi: iê, uô, ua, ưa, ươ, ia - Viết iê liền sau âm đầu trước âm cuối Ví dụ: chiến công, tiên tiến, tiếng hát, xanh biếc, viết bài, - Viết uô khi có âm cuối Ví dụ: cái cuốc, tuốt lúa, quả chuối, luôn luôn, rau muống, nhuộm vải, - Viết ua khi không có âm cuối Ví dụ: con cua, của cải, mua bán, - Viết ưa khi không có âm cuối Ví dụ: trời mưa, quả dưa, - Viết ươ khi có âm cuối Ví dụ: yêu nước, lướt thướt, vườn hoa, tình thương, con bướm, tưới cây, quả bưởi, cướp cờ, - Viết ia khi không có âm cuối Ví dụ: cây mía, chia tay, - Nguyên âm đôi có âm cuối đi kèm Ví dụ: dưới, triều, nước, tướng, chiến, phương,... - Nguyên âm đôi không có âm cuối đi kèm Ví dụ: nửa, của, - Nguyên âm đôi đi sau âm đệm Ví dụ: thuyền, quyền, + Mẹo tương ứng thanh điệu trong từ láy: (Luật bổng-trầm) - 13 - + Mẹo (Mình nên nhớ viết là dấu ngã): Mẹo, luật chính tả thường khó nhớ. Vì thế trong quá trình giảng dạy tôi thường xuyên nhắc nhở, khuyến khích các em luyện viết nhiều lần để tạo thói quen dùng đúng từ, đúng dấu thanh,Ở đây giáo viên có thể cho học sinh học thuộc câu sau đây nhằm giảm bớt lỗi chính tả cho học sinh. Với m (mình): mẫn cảm, mãnh liệt, mạnh mẽ, mĩ thuật, mĩ mãn, Với n (nên): nỗ lực, phụ nữ, nỗi niềm, Với nh (nhớ): nhẫn nại, nhiễm bệnh, tham nhũng, truyền nhiễm, Với v (viết): vĩ đại, vĩ nhân, vĩ tuyến, vỗ tay, vũ trụ, cổ vũ, Với l (là): lã chã, thung lũng, lưỡng lự, lãng mạn, ông lão Với d (dấu): dưỡng sinh, dũng cảm, dã man, diễm phúc, dã thú, Với ng (ngã): té ngã, ngỡ ngàng, ngưỡng mộ, ngôn ngữ, đội ngũ, + Quy tắc viết hoa danh từ riêng: Viết đúng chính tả không chỉ là cách viết đúng tiếng từ mà gồm cả cách viết hoa, cách dùng dấu câu. Vì thế tôi luôn nhắc nhở học sinh không nên viết hoa tuỳ tiện. Bên cạnh đó, tôi kết hợp với giảng dạy phân môn Luyện từ và câu để hướng dẫn học sinh cách sử dụng dấu câu và viết hoa cho đúng. • Viết hoa chữ cái đầu của tiếng đầu câu Ví dụ: Đường lên dốc trơn và lầy. Người nọ đi tiếp sau người kia. • Viết hoa tên người Việt Nam: Viết hoa chữ cái đầu của mỗi tiếng. Ví dụ: Nguyễn Ái Quốc, Võ Thị Sáu, • Viết hoa tên địa lí Việt Nam Ví dụ: Hà Nội, Hạ Long, Cần Thơ, • Viết hoa trong phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài: Ta cần viết hoa chữ cái đầu tiên của tiếng thứ nhất, giữa các tiếng có gạch nối. Ví dụ: Cô-rét-ti, En-ri-cô, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, • Viết hoa để tỏ sự tôn trọng Ví dụ: Việt Nam đẹp nhất tên Người, Hai Bà Trưng, (Tiếng Người không phải tên riêng nhưng để bày tỏ sự tôn trọng đối với Hồ Chủ Tịch thì viết hoa). - 15 -
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_ren_ky_nang_viet_dung_chinh_ta_cho_hoc.doc