Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội Lớp 3
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội Lớp 3

Sử dụng Bản đồ tư duy để hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong các Nghị quyết Trung ương từ năm 1996, được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12-1998), đặc biệt đã được khẳng định lại trong điều 5, Luật Giáo dục (2005): “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Các PPDH nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh coi việc dạy phương pháp tự học là cốt lõi. Rèn luyện cho người học có được phương pháp, thói quen tự học, vận dụng được những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự phát hiện và giải quyết vấn đề gặp phải trong cuộc sống sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, góp phần hình thành người công dân có ích, năng động, sáng tạo của xã hội tương lai. Hiện nay, ở tất cả các cấp học đã và đang tiến hành đổi mới PPDH theo quan điểm lấy người học là trung tâm, trong đó nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào áp dụng các PPDH tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học. PPDH bằng Bản đồ tư duy được coi là một trong những PPDH tích cực. Phương pháp này nhằm hướng các em đến một phương cách học tập tích cực và tự chủ. Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo. PPDH này giúp học sinh khắc sâu và ghi nhớ kiến thức tốt hơn, đồng thời đem lại những giờ học nhẹ nhàng, vui vẻ, lý thú mà vẫn đạt hiệu quả cao. Như vậy, đây là PPDH hướng vào người học, nó phù hợp và đáp ứng yêu cầu của đổi mới dạy học hiện nay. Đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước, ngành Giáo dục Việt Nam đó có những thay đổi đáng kể về mọi mặt. Tất cả các cấp học, ngành học đều đặt mục tiêu đào tạo ra những con người mới phát triển toàn diện là trọng tâm giáo dục của mình. Ở bậc Tiểu học, dạy đủ số môn học là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá chất lượng giáo dục toàn diện. Là một bộ phận của hệ thống các môn học chính khóa trong chương trình ở tiểu học, môn Tự nhiên và Xã hội (TN&XH) góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục tiểu học nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ em. Đây là môn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình cũng như trong đời sống học tập của học sinh bởi tính thực tiễn của nó. Môn TN&XH lớp 3 là một môn học có nội dung mang tính thực tiễn cao. Nó giúp học sinh có những kiến thức, kĩ năng, thái độ về con người và sức khỏe, các mối quan hệ gia đình, xã hội, những động vật, thực vật, hiện tượng gần gũi với cuộc sống của học sinh. Những hiểu biết mà các em nhận thức được là thực tế đang xảy ra ở xung quanh và môi trường tự nhiên. Học sinh có thể học cách tư duy, cách liên kết các vấn đề trong một chủ thể. Quá trình này cho phép lớp học trở thành môi 3/32 Sử dụng Bản đồ tư duy để hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 PHẦN 2: NỘI DUNG I. Cơ sở lí luận và thực tiễn 1.1. Cơ sở lí luận a. Cơ sở sinh lí học Hệ thần kinh của con người được cấu tạo từ những đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản là các tế bào thần kinh hay nơron. Nhờ khả năng tiếp nhận, xử lí và chuyển giao thông tin vô cùng phức tạp của nơron mà cơ thể có được những phản ứng thích hợp với các kích thích tác động vào cơ thể. Cho tới lúc ra đời, não bộ của đứa trẻ vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dù có cấu tạo và hình thái không khác với não của người lớn là mấy. Có những sự biến đổi về tế bào học và về chức năng rất tinh vi trong tất cả các giai đoạn phát triển. Sự phát triển của các đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh mẽ, tăng lên theo tuổi và được tiếp tục đến 14 – 15 tuổi, do đó cấu tạo tế bào của vỏ não trẻ em 7 tuổi về cơ bản giống với người lớn. Khoảng giữa 7 – 14 tuổi, các rãnh và hồi não đã có hình dáng giống của người lớn. Hoạt động thần kinh cấp cao của học sinh tiểu học phát triển cùng với sự trưởng thành về hình thái của não bộ. Những năm đầu tiên của trẻ là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ của hoạt động thần kinh cao cấp. Cũng trong giai đoạn đó, các cơ quan cảm giác và các phần vỏ não của cơ quan phân tích được phát triển. Hệ vận động được phát triển với nhịp độ nhanh. Cuối cùng, hệ thống tín hiệu thứ hai – ngôn ngữ của trẻ – bắt đầu phát triển. Từ 6 tuổi trở đi, trẻ bắt đầu sử dụng các khái niệm được trừu xuất khỏi hành động. Ở tuổi này, trẻ bắt đầu học viết và học đọc được. Sang 7 tuổi, thùy trán của não bộ đã trưởng thành về hình thái và trong thời kì này xuất hiện khả năng duy trì chương trình hành động gồm một vài động tác và khả năng dự kiến trước được kết quả của hành động. Những thành tựu nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy não bộ không tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo ra những kết nối, những nhánh thần kinh. Việc ghi chép tuần tự theo lối truyền thống với bút và giấy có dòng kẻ đã khiến cho con người cảm thấy nhàm chán. Từ trước đến nay, đã có một số quan điểm cho rằng, con người không sử dụng hết 100% công suất của bộ não, thậm chí có ý kiến cho rằng: Trong cuộc đời, mỗi người chỉ sử dụng 10% các tế bào não, 90% tế bào còn lại ở trạng thái ngủ yên vĩnh viễn. Những nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ chức năng cho thấy, toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động tinh thần của con người và quá trình tư duy là sự kết hợp phức tạp giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giai điệu. Tức là quá trình tư duy đã sử dụng toàn bộ các phần khác nhau trên bộ não. b. Cơ sở tâm lí học lứa tuổi Tuy cùng chịu sự chi phối của những quy luật và yếu tố như ở các giai đoạn phát triển khác, nhưng mỗi một giai đoạn lứa tuổi trong quá trình phát triển tâm lí của cá thể nói chung và trẻ em nói riêng là một khoảng thời gian nhất định với những đặc trưng riêng của một trình độ phát triển. Lứa tuổi học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển với các đặc trưng sau: Chú ý: Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý 5/32 Sử dụng Bản đồ tư duy để hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Vì vậy, phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện. Nhận xét: Từ những đặc điểm tâm sinh lí trên thì việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học là phù hợp và cần thiết. Bản đồ tư duy với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não có thể phục vụ một số mục đích chính của Bản đồ tư duy làm cho tư duy trở nên nhìn thấy được qua sơ đồ là: (1) Tìm hiểu những gì ta biết giúp xác định những khái niệm then chốt, thể hiện mối liên hệ giữa các ý tưởng và lập nên một lược đồ có ý nghĩa từ những gì ta biế và hiểu do đó giúp ghi nhớ một cách bền vững; (2) Trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hoặc một dự án thông qua tổ chức và tập hợp các ý tưởng và thể hiện mối liên hệ giữa chúng; (3) Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trình suy nghĩ về những yếu tốt chính hoặc những gì ta biết và đã làm. Trong Bản đồ tư duy, học sinh được tự do phát triển ý tưởng, xây dựng mô hình và thiết kế mô hình vật chất hoặc tinh thần để giải quyết những vấn đề thực tiễn. Từ đó, cùng với việc hình thành được kiến thức, các kĩ năng tư duy (đặc biệt kĩ năng tư duy bậc cao) của học sinh cũng được phát triển. Với việc lập Bản đồ tư duy, học sinh không chỉ là người tiếp cận thông tin mà còn cần phải suy nghĩ về các thông tin đó, giải thích nó và kết nối nó với cách hiểu biết của mình. Và điều quan trọng hơn là học sinh được một quá trình tổ chức thông tin, tổ chức ý tưởng. Như vậy, sử dụng Bản đồ tư duy là cần thiết và phù hợp với tâm sinh lí học sinh, là hình thức ghi nhớ thay cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng sơ đồ kiến thức hóa. c. Bản đồ tư duy Bản đồ tư duy là gì? Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Ở giữa bản đồ là ý tưởng trung tâm, từ ý tưởng này phát triển ra các nhánh tượng trưng cho những ý chính (nhánh chính). Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ để nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn. Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phân thành những nhánh nhỏ hơn. Vai trò của Bản đồ tư duy trong dạy học ở Tiểu học Người ta cho rằng, thế kỉ XXI là thế kỉ của bộ não. Con người đang đứng trước kỉ nguyên của trí tuệ, của sự sáng tạo với sức mạnh tiềm tàng của bộ não gần như vô hạn. Hai bán cầu đại não của con người có chức năng đặc trưng rất khác nhau. Bán cầu não trái thiên về khả năng lôgíc khoa học như từ vựng, tư duy lôgíc, xử lí dữ liệu, thứ tự, tuyến tính, khả năng phân tích, giải quyết tuần tự. Trong khi đó, bán cầu não phải thiên về tiết tấu, tri giác không gian, tư duy 7/32 Sử dụng Bản đồ tư duy để hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 • Cấu trúc Bản đồ tư duy • • • • 9/32 Sử dụng Bản đồ tư duy để hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 • Một số lưu ý khi vận dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Trong quá trình sử dụng PPDH bằng Bản đồ tư duy cần phải lưu ý một số vấn đề như: Học sinh cần được giới thiệu nhiều cách tổ chức thông tin dưới dạng sơ đồ tư duy: sơ đồ thứ bậc, sơ đồ mạng, sơ đồ chuỗi, sơ đồ quan hệ toàn bộ một phần Giáo viên được ra các câu hỏi để gợi ý học sinh lập sơ đồ (thấy được quan hệ giữa các từ khóa với các từ khóa thứ cấp hay chủ đề chính với các chủ đề nhỏ). Giáo viên nên khuyến khích học sinh phát triển, sắp xếp ý tưởng để hoàn thành sơ đồ. Cũng cần lưu ý rằng không có cách nào là tốt nhất hoặc thích hợp nhất với tất cả mọi đối tượng. Một số học sinh thích sắp theo hàng, một số khác thích dạng hình học, lại có người thích sắp xếp một cách tự do hơn. Điều này liên quan rất nhiều đến cách học của cá nhân cũng như kinh nghiệm của người học. Ví dụ: Thay vì tổ chức cho học sinh ôn tập theo cách truyền thống, giáo viên có thể triển khai các nội dung cần ôn tập bằng cách sử dụng Bản đồ tư duy, tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội sử dụng kiến thức đã học vận dụng chúng vào thực tế dưới dạng một phương án sử dụng Bản đồ tư duy khi ôn tập chương “Con người và sức khỏe” (Tự nhiên và Xã hội lớp 3. Giáo viên có thể nêu một câu hỏi khái quát: “Hãy sử dụng Bản đồ tư duy để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến sức khỏe con người”, học sinh suy nghĩ về câu hỏi trên và đưa ra câu trả lời cho câu hỏi chính (vẽ Bản đồ tư duy với từ khóa trung tâm là Con người và Sức khỏe). Lần lượt bổ sung từ ngữ, ý tưởng vào câu trả lời cho câu hỏi chính xác. Học sinh đưa ra các vấn đề liên quan đến Con người và Sức khỏe như: Cơ thể con người có những cơ quan nào? (hô hấp, tuần hoàn, bài tiết nước tiểu và thần kinh), học sinh đọc ý kiến của các thành viên trong nhóm và thống nhất. Đó là các từ khóa cấp 1. Từ từ khóa cấp 1, giáo viên có thể sử dụng 5W1H (câu hỏi): Là gì? (What); Khi nào? (When); Ai? (Who); Ở đâu? (Where); Vì sao? (Why); Như thế nào? (How) để yêu cầu học sinh đưa ra các vấn đề liên quan đến các từ khóa cấp 2. Học sinh thảo luận về các câu trả lời khác nhau và đánh dấu những đặc điểm chính yếu (gạch chân hoặc dùng màu khác nhau). Ví dụ: với câu hỏi: Nên làm gì để bảo vệ và giữ gìn vệ sinh cơ quan hô hấp?..., học sinh sẽ phát triển sơ đồ và điền các từ khóa: vệ sinh mũi, họng; giữ vệ sinh nhà ở; Hay như câu hỏi: Làm thế nào để phòng bệnh hô hấp?... học sinh có thể điền tiếp vào các lược đồ từ khóa như: giữ ấm cơ thể, ăn uống đủ chất, luyện tập thể dục, đó chính là các từ khóa cấp 2. Cứ như vậy, Bản đồ tư duy sẽ được học sinh bổ sung và hoàn chỉnh dần. Một số ví dụ khác cho thấy việc sử dụng Bản đồ tư duy một cách dễ dàng và hiệu quả trong dạy và học nhiều môn khác nhau như Lịch sử, Địa lí, Tiếng Việt, Để tóm tắt kiến thức về Giữ gìn vệ sinh cho học sinh, giáo viên có thể sử dụng Bản đồ tư duy với từ khóa trung tâm là GIỮ VỆ SINH. Xung quanh từ khóa này là các từ khóa cấp 1: ăn sạch, uống sạch, giữ vệ sinh cơ thể, Sau đó đề nghị các em tiếp tục điền thêm các từ khóa cấp độ nhỏ hơn. Để dạy về các loại cây thường được dùng trong đời sống hàng ngày, giáo viên có thể đưa ra từ khóa TRÁI CÂY, sau đó đề nghị các em nêu ra các loại trái 11/32
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_su_dung_ban_do_tu_duy_de_ho_tro_day_ho.doc