SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và xã hội Lớp 3 trong điều kiện ứng phó với dịch Covid - 19
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và xã hội Lớp 3 trong điều kiện ứng phó với dịch Covid - 19", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và xã hội Lớp 3 trong điều kiện ứng phó với dịch Covid - 19

UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH LIỆT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MON TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 TRONG ĐIÊU KIỆN ỨNG PHÓ VỚI DỊCH COVID-19 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC Lĩnh vực/ Môn: Tự nhiên và xã hội Cấp học: Tiểu học Tên tác giả: Nguyễn Thanh Thúy Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thanh Liệt Chức vụ: Giáo viên cơ bản Tháng 4, năm 2022 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chon đề tài Tự nhiên và Xã hội là một trong những môn học đóng vai trò quan trọng trong chương trình tiểu học. Thông qua môn học, giúp cho học sinh có những hiểu biết cơ bản ban đầu thiết thực về tự nhiên, xã hội, các mối quan hệ của con người xảy ra xung quanh các em; hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng như quan sát, phân tích, so sánh, đối chiếu, đánh giá, tổng hợp... tích hợp cho học sinh những kĩ năng cần thiết của cuộc sống. Ngoài ra, môn Tự nhiên và Xã hội còn hình thành và phát triển ở học sinh lòng yêu thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp và biết bảo vệ chúng; Hình thành cho học sinh lòng ham hiểu biết khoa học, thích tìm tòi, khám phá và sáng t ạo. Để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền giáo dục nước nhà, chương trình giáo dục phổ thông nói chung và chương trình giáo dục bậc Tiểu học nói riêng đã thực hiện đổi mới Sách giáo khoa và chương trình dạy học để nâng cao chất lượng nguồn lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 28/2014/QH13 ngày 28/11 /2014 của Quốc hội về đổi mới Chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông: “Tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp, góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt tiềm năng của mỗi học sinh”. Năm học 2021 - 2022 là năm học cuối cùng HS học tập theo chương trình giáo dục phổ thông hiện hành năm 2000. Giai đoạn này HS dần được tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông 2018. Đây cũng là một năm học đặc biệt khi học sinh cả nước phải học tập trực tuyến ngay từ đầu năm học để ứng phó với tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp trên khắp cả nước. Vậy làm thế nào để học sinh học tập hiệu quả, phát huy huy được năng lực của bản thân trong tình hình khó khăn như thế này? Đó chính là câu hỏi mà tôi luôn trăn trở khi chuẩn bị bước vào năm học mới. Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học các môn học nói chung và môn Tự nhiên và xã hội nói riêng, tôi đã tìm tòi, nghiên cứu đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến môn Tự nhiên và xã hội. Chính vì vậy, đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 trong điều kiện ứng phó với dịch Covid - 19 ở trường Tiểu học” được tôi chọn làm đề tài nghiên cứu trong năm học này. 2. Mục đích nghiên cứu PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lí luận 1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Tự nhiên và xã hội Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học ”. Cùng với đó, trong phần mục tiêu tổng quát các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2016 - 2020, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm “đột biến chiến lược” đó là: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao". Định hướng trên đây đã được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục, điều 24.2: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Như vậy, định hướng đổi mới phương pháp giáo dục đã được khẳng định. Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường Tiểu học là giúp học sinh hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. 2. Vai trò của môn Tự nhiên và xã hội ở trường Tiểu học Môn tự nhiên và xã hội là một môn học có tính tích hợp cao. Tính tích hợp ấy được thể hiện ở 3 điểm sau: + Chương trình môn Tự nhiên và xã hội xem xét tự nhiên - con người - xã hội trong một thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau. + Các kiến thức trong chương trình môn Tự nhiên và xã hội là kết quả của việc tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học như Sinh học, Vật lí, Hóa học,... + Chương trình môn Tự nhiên và xã hội có cấu trúc phù hợp với nhận thức của học sinh, theo hình thức đồng tâm, phát triển qua các lớp. Cùng là một chủ đề dạy học nhưng ở lớp 1 kiến thức trang bị sơ giản hơn ở lớp 2. Mức độ kiến thức được nâng dần lên ở lớp 3 và các lớp cuối cấp với các môn Khoa - Sử - Địa ở lớp 4, 5. Có thể nói Tự nhiên và xã hội là môn học cung cấp, trang bị cho HS những kiến thức về Tự nhiên và xã hội trong cuộc sống hàng ngày. Các em là chủ thể nhận thức. Vậy nên khi giảng dạy người GV cần tích cực đổi mới phương pháp cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS, làm sao để HS phát huy được năng lực của mình, lĩnh hội được kiến thức một cách chủ động nhất. - Do dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp, lây lan nhanh trên phạm vi cả nước nên HS phải học tập trực tuyến từ đầu năm học. Trong giai đoạn này, Bộ giáo dục đã có công văn số 3969/BGDĐT-GDTH hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học đối với lớp 3, 4, 5 trong điều kiện ứng phó với dịch Covid 19. Theo đó hầu hết thời lượng các bài học đều bị giảm xuống một nửa nên khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS. - Trong nhà trường, môn Tự nhiên và xã hội thường bị coi là môn phụ. Nó là môn được đánh giá bằng định tính nên chưa được phụ huynh và HS coi trọng. Hầu hết các giáo viên chỉ chú trọng vào hai môn Toán và Tiếng Việt. Chính vì vậy mà môn Tự nhiên và xã hội thường được dạy một cách đại khái, không đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học. Điều đó làm mất dần sự hứng thú, say mê học tập của học sinh. - Một số GV còn thiếu kinh nghiệm hoặc ngại tổ chức các hoạt động dạy học tích cực hoặc có tổ chức thì còn lúng túng, mất thời gian. - Do HS phải học tập trực tuyến từ đầu năm học nên GV và HS chỉ được làm quen nhau qua màn hình máy tính, điện thoại. Điều đó khiến GV phải mất nhiều thời gian để nắm bắt được đặc điểm tính cách và tình hình học tập của các em. - Bản thân các em học sinh còn nhỏ, khả năng tập trung còn chưa cao nên việc giãn cách xã hội, HS phải ở nhà nhiều khiến tâm lí các em ít nhiều bị ảnh hưởng, một số em thiếu tập trung trong học tập . - Việc học trực tuyến gây khó khăn cho GV khi tổ chức được các hình thức dạy học tích cực như hoạt động nhóm, đóng vai, xây dựng dự án,... hoặc tổ chức các trò chơi để tạo hứng thú học tập, phát triển năng lực HS. 3. Khảo sát tình hình HS Để nắm bắt được tình hình học tập của HS, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát hứng thú của GV và chất lượng học tập môn Tự nhiên và xã hội của HS bằng hình thức HS thực hiện trả lời các câu hỏi trên ứng dụng Google form. Kết quả thu được như sau: * Về hứng thú học tập: + Số HS thích học môn Tự nhiên và xã hội: 20/54 em (chiếm 37%) + Số HS thường xuyên tham gia thảo luận, trao đổi với các bạn trong nhóm khi học môn Tự nhiên và xã hội: 22/54 em (chiếm 40%) + Số HS thích và rất thích tham gia các trò chơi học tập trong giờ học Tự nhiên và Xã hội: 50/54 em (chiếm 91%) * Về chất lượng học tập: + Hoạt động 2: Tìm hiểu về phản xạ + Hoạt động 3: Tìm hiểu về vai trò của não. Bên cạnh đó, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, GV trong tổ chúng tôi cũng thảo luận, thống nhất nội dung phiếu giao việc cho HS chuẩn bị bài trước. Việc làm này vừa nhằm phát huy năng lực và khả năng tự học của HS, vừa hạn chế việc “cháy giáo án” của các tiết học. Ví dụ: Với bài Hoạt động thần kinh, trước buổi học tôi đã gửi trong nhóm lớp một phiếu giao việc để các em chuẩn bị bài: PHIẾU GIAO VIỆC 1) Hãy quan sát các hình trong SGK trang 26, 27 và tìm hiểu: + Cơ quan thần kình gồm những bộ phận nào? + Các bộ phận ấy được bảo vệ như thế nào và có vai trò gì trong các hoạt động của cơ thể? 2) Con đã bao giờ bị giẫm phải một vật nhọn chưa? Khi đó con có phản ứng như thế nào? Vì sao con có phản ứng như vậy? Nhờ nâng cao được nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của môn học và tổ chức nghiêm túc các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi thấy 100% các đồng chí giáo viên trong khối thực hiện dạy nghiêm túc các tiết Tự nhiên và xã hội lớp 3. Các tiết dạy của giáo viên đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh. Học sinh hứng thú với môn học. Nhờ vậy mà tỉ lệ học sinh đạt kết quả hoàn thành tốt môn Tự nhiên và xã hội cuối học kì 1 lớp 3D của tôi đạt 69% và của cả khối 3 có 170 em hoàn thành tốt, đạt 65%. 2. Biên pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin và lựa chọn phần mềm giảng dạy phù hợp Có thể nói ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học trực tuyến là một phương pháp thể hiện cao tính sáng tạo về khoa học. Trước kia khi giảng dạy bằng phương pháp truyền thống, người giáo viên phải chuẩn bị rất nhiều đồ dùng trực quan rồi lỉnh khỉnh mang đến lớp, có đồ dùng chỉ dùng được một lần rồi bỏ đi. Vào tiết dạy vừa giảng bài, giáo viên vừa phải ghi nhớ và sắp đặt đồ dùng để treo lên bảng, thời gian tháo gắn đồ dùng cũng chiếm một phần không nhỏ trong tiết học, chưa nói đến những tranh cần thiết phải sử dụng nhưng nó quá nhỏ, màu sắc không rõ ràng, phần nào đã làm giảm sự tập trung ở các em. Còn với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học thì khác hẳn. Nó như mở ra một cái nhìn mới cho các em học sinh, được tiếp xúc với phương tiện hiện đại tầm nhìn của các em được mở rộng hơn, bài giảng không còn trở nên khó hiểu với các em nữa vì những hình ảnh minh họa cho lời nói của giáo viên giờ đây sinh động, hiện thực, phong phú. Giáo viên có nhiều thời gian truyền thụ kiến thức cho học sinh, học sinh hiểu bài sâu hơn, vận dụng kiến thức đã học vào thực hành tốt hơn. - Ứng dụng Classkick tôi sử dụng khi cho HS thực hiện các bài tập nối các từ ngữ hoặc câu hỏi với câu trả lời thích hợp để luyện tập, củng cố các kiến thức. Ví dụ: Khi dạy bài Các hoạt động thông tin liên lạc Để giúp HS tìm hiểu về nhiệm vụ của các cơ sở thông tin liên lạc, tôi thiết kế bài tập để học sinh thực hiện nối tên cơ sở thông tin liên lạc với nhiệm vụ thích hợp. Hoạt động này giúp HS vận dụng được vốn hiểu biết của mình, phát huy năng lực của bản thân. Nhờ đó mà các em ghi nhớ kiến thức lâu hơn. 2. Nối các ô chừ cho phù hựp. Phát và thu nhận những tin tức. hinh ánh về vãn hóa. Bưu điện khoa học. nghệ thuật, kinh tể,...bằng lời và bằng hình anh sống động. Nhận, chuyên thư tin, bưu phẳm. tiền....cùa người gửi den người nhận giữa các địa phưtmg trong nước, giữa Đài truyền hình trong nước với nước ngoài. Phát và thu nhận thông tin trên các lĩnh vực của cuộc sống bàng lời. Đài phát thanh - Ứng dụng Qizzizz tôi sử dụng để tổ chức trò chơi trực tuyến, giúp HS củng cố kiến thức bài học. Nhờ sử dụng phần mềm giảng dạy phù hợp và linh hoạt các ứng dụng công nghệ thông tin mà những giờ học trực tuyến các
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_day_hoc_mon_tu_nhien.docx