Sáng kiến kinh nghiệm Phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh Lớp 3
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh Lớp 3

A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Tiếng Anh là một ngôn ngữ Quốc tế có tính thông dụng và là một công cụ giao tiếp thiết yếu trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội. Thòi đại toàn cầu hoá, nhu cầu giao tiếp giữa mọi người thuộc mọi quốc gia là bắt buộc. Do vậy, việc học tiếng Anh đang trở thành một nhu cầu cần thiết và cấp bách giúp chúng ta tiếp cận, mở rộng hiểu biết vói nguồn tri thức tiên tiến trên thế giói ở nhiều lĩnh vực khác nhau: Khoa học - kĩ thuật, kinh tế - xã hội, y học... Tiếng Anh mặc nhiên trở thành ngôn ngữ toàn cầu. Trên cơ sở đó, trong lãnh vực giáo dục, Bộ GD - ĐT đã có định hướng chiến lược cho việc tổ chức dạy học môn Tiếng Anh trong trường tiểu học nhằm tạo điều kiện, môi trường cho học sinh được tiếp xúc với môn học này, tạo tiền đề cho việc học lên các cấp học trên được vững chắc. Hi ện nay t ất c ả các trường Tiểu học trên toàn quốc đã dạy chương trình Tiếng Anh bắt đầu từ lớp 3 và một số trường đã dạy chương trình Tiếng Anh ngay từ lớp 1. Trong đó có trường đã dạy theo chương trình 4 tiết /tuần. Ở trường Tiểu học Thanh Xuân Nam cũng đã và đang áp dụng chương trình tiếng Anh theo sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản ngay từ lớp 3 theo chương trình 2 tiết /tuần. Qua các năm giảng dạy Tiếng Anh ở bậc tiểu học tôi thấy các em học sinh rất thích học tiếng Anh và nghe nói tiếng Anh rất tốt.Vì đây là môn học rất vui và mới lạ đối với các em, nhưng vẫn còn một số học sinh thụ động hoặc yếu kém thì không thích và không chú ý nhiều vào môn học này nên các em chưa phát triển được kỹ năng trên. Để khắc phục tình trạng trên tôi đã tìm tòi nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng nói cho học sinh tiểu học. Đây là lý do tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh lớp 3. Tôi hy vọng nó cũng sẽ giúp ích được cho các đồng chí đồng nghiệp trong việc phát huy tính tích cực của học sinh đối với chất lượng và hiệu quả giảng dạy Anh văn trong giao tiếp. 2. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu phương pháp dạy kỹ năng nói đối với học sinh tiểu học, sao cho các em nói thật chuẩn ngôn ngữ tiếng Anh, để làm nền tảng cho các em phát triển tốt kỹ năng này ở cấp II trở lên. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Học sinh lóp 3 đến lóp 5 trường tiểu học Thanh Xuân Nam - Quận Thanh Xuân - Hà Nội 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện tốt nhiệm vụ đã nêu, tôi đã phối họp các phương pháp sau đây: rất nhiệt tình ủng h ộ, đóng góp ý kiến trong việc giảng dạy và luôn đoàn kết giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn. - Biên chế giáo viên đảm bảo theo nhu cầu phát triển của m ỗi nhà trường; đồng thời giáo viên được đào tạo theo chuẩn, có sự nhiệt tình, năng lực và có tích luỹ được kinh nghiệm. - Các em học sinh năng động và nhanh nhẹn sẵn sàng tiếp thu cái mói, có óc tư duy sáng tạo. Vói những học sinh khá giỏi, các em rất hứng thú trong quá trình học nghe và thảo luận khi nói tiếng Anh vói bạn bè và giáo viên trưóc l óp, các em muốn được tham gia vào nhiều tình huống giao tiếp khác nhau để diễn tả được ý tưởng và suy nghĩ của bản thân. -Một số phụ huynh rất quan tâm đến việc học của con em mình, chuẩn bị đầy đủ sách vở cũng như đồ dùng dạy học khi đến lóp. 2.2. Khó khăn: -Đây là lứa tuổi rất hiếu động, ham choi hon ham học, chưa quen vói việc tự học, chưa xây dựng được thòi khóa biểu cho riêng mình và chưa hiểu được việc học ngoại ngữ là cần thiết. - Còn một số ít HS gặp khó khăn trong việc tiếp cận và nắm bắt ngôn ngữ mói. Từ đó, có ảnh hưởng không ít đến chất lượng dạy-học. - Hầu hết HS ở vùng nông thôn, phát âm tiếng địa phưong nên khi đọc tiếng Anh không chuẩn, thưòng có xu hưóng phát âm tiếng Anh theo cách Việt hoá. -Bên cạnh đó, học sinh tiểu học rất thích giò học có nhiều đồ dùng trực quan, nhiều màu sắc và sinh động. Nhưng hiện nay trang thiết bị giảng dạy và học tập môn Anh văn còn hạn chế như: Đĩa CD bài hát và kể’ chuyện bằng tiếng Anh, tranh ảnh minh hoạ, thẻ hình, truyện tranh bằng tiếng Anh....Vì vậy giáo viên phải tự làm và tìm kiếm để đáp ứng cho việc lên lóp để giảng dạy. 2.3. Thực trạng của việc dạy và học kĩ năng nghe nói tiếng Anh: a. Thực trạng cuả việc dạy: So vói phưong pháp dạy học nhiều năm trườc đây, giáo trình dạy tiếng Anh bậc Tiểu học đã có nhiều thay đổi tích cực. Cụ thể, nhà trưòng đã ý thức được việc phải rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh trong chưong trình học chính khóa. Tuy nhiên, do thòi lượng học có hạn, mỗi tuần chỉ được học hai tiết không đủ thòi gian để học sinh phát triển tốt kỹ năng giao tiếp tiếng Anh.cộng thêm những đòi hỏi về mặt co sở vật chất và chuyên môn của giáo viên nên kĩ năng này vẫn còn gặp nhiều hạn chế, hầu như chỉ được triển khai mạnh mẽ ở các trưòng trọng điểm trên địa bàn thủ đô. b. Thực trạng của việc học: - Tiếng Anh là một môn học rất mói lạ và khó học vói học sinh Tiểu học. Các em học sinh, đặc biệt là học sinh lóp 1,2 mói bắt đầu học làm quen, đang học ngôn ngữ mẹ đẻ * Thực hiện: - Vào đầu mỗi tiết dạy, tôi thường đối thoại vói học sinh bằng những câu Tiếng Anh đơn giản để’ làm “nóng” không khí lóp học, tạo sự hưng phấn trong học tập, ứng xử nhanh nhẹn trong giao tiếp. Ví dụ : T : Good morning, class ! How are you today ? Ss : Good morning, Mrs.Linh ! We're fine, thank you. How are you ? T : Very well, thank you! - Theo cách dạy truyền thống vào đầu tiết dạy giáo viên thường gọi học sinh kiể’m tra bài cũ, nhưng đối vói tôi thì không làm như thế. Trưóc khi trở thành giáo viên tôi cũng là một học sinh như các bạn nhỏ bây giờ nên tôi hi ểu rõ tâm trạng các em lúc này. Đối vói tôi, việc sử dụng các hoạt động trò choi trưóc khi bắt đầu tiết học không những giúp không khí lóp học không nặng nề mà còn làm cho tiết học trở nên sinh động, tạo cho học sinh tâm lý thoải mái. Khi đưa ra yêu cầu trò chơi giáo viên nên nói bằng Tiếng Anh, không cần câu nói dài chỉ sử dụng một số cụm từ, câu đơn giản nhưng thường xuyên lặp đi lặp lại, như th ế học sinh sẽ hiểu. Ví dụ: Teacher: Are you happy now? Students: Yes. Teacher: Do you like to play game ? Students: Yes. Teacher: Play game “ Slap the board” - Ok ! Students: Ok! Teacher: Four boys and four girls, please ! Now, any volunteers ? Raise your hand................................ - Sau khi chọn được hai đội tôi sử dụng một số câu ra lệnh đon giản khác. Ví dụ: Teacher: Ready ? Students: Yes . Teacher: Now, let's start”............ Như vậy khi vào lóp giáo viên có thể chào hỏi học sinh những câu hỏi bằng tiếng Anh để tạo cho học sinh thế chủ động.ĐỒng thòi giáo viên có thể ổn định lớp để học sinh tập trung sự chú ý bằng một hoạt động trò chơi hay một bài hát bằng tiếng Anh mà có liên quan đến nội dung bài cũ nhằm ôn lại kiến thức cho học sinh nắm vững hơn. sinh noi theo. Tôi nghĩ giáo viên nên là người đầu tiên phải khắc phục mặt hạn chế trên rồi mói đến học sinh. b / Thái độ giáo viên khi đứng lớp: Phần lón giáo viên khi đứng lóp thường có thái độ nghiêm khắc trong giảng dạy để học sinh tập trung hơn nhưng theo tôi không nên tạo căng thẳng trong giờ học Tiếng Anh. Bỏi vì, những tiết học Toán, Tiếng Việt, ... học sinh đã tập trung nhiều cho nên đến tiết Tiếng Anh giáo viên cần tạo không khí lóp học sinh động và vui vẻ. Đây là cách cuốn hút học sinh vào tiết dạy của mình để các em thấy rằng Tiếng Anh không khó học và khô khan như mình nghĩ. * Thực hiện: - Giáo viên cần vui vẻ hoà nhập vào thế giói trẻ thơ của học sinh, chính thái độ của người hưóng dẫn sẽ giúp các em tự tin và mạnh dạn tập nói tiếng Anh trong lóp học mà không sợ thầy cô trách phạt hay bạn bè chế giễu khi bị sai. - Khi bườc vào lóp điều đầu tiên giáo viên nên làm là mỉm cười vói cả lóp tạo sự gần gũi, thân thiện vói học trò của mình để bắt đầu một tiết học mói. - Giáo viên cần rèn luyện cho mình có tính “khôi hài” và sử dụng nó trong tiết dạy để cuốn hút học sinh. Người thầy được ví như một nghệ sĩ nếu diễn tốt sẽ được khán giả mến mộ và đón nhận một cách nồng nhiệt. Làm được điều này bước đầu chúng ta đã thành công. Sau đây là một ví dụ minh hoạ. Ví dụ: Tôi cho học sinh choi trò “Simon says” và sử dụng các câu lệnh ( Stand up, Sit down, Be quiet, Listen để áp dụng vào trò choi. Giáo viên hô: “Simon says: Stand up” thì học sinh làm, còn không có từ “Simon says” thì học sinh không làm.Học sinh nào làm thì thua và bị loại khỏi trò choi. Lúc này đối với các em bị loaị khỏi trò choi, tôi kịp thòi động viên các em: “You work very well. Try more, dear!” Như vậy ,kể cả các em bị thua cũng được cô giáo khích lệ, động viên, lần sau các em sẽ tiếp tục tham gia trò choi mà không lo bạn bè chế giễu khi bị thua cuộc. 1. về học sinh: a / Phát âm chuẩn từ vựng và ngữ điệu câu: Hiện nay, có quan điểm cho rằng học sinh tiểu học còn nhỏ không cần phát âm chuẩn như ngưòi bản xứ nhưng đối với tôi thì ngược lại. Phải tập các em nói đúng và chuẩn ngay từ khi mới học Tiếng Anh. Bỏi vì ngưòi xưa thưòng nói “Tre non dễ uốn” và một phần do kinh nghiệm bản thân từ nhiều năm nay dạy học sinh tiểu học nên tôi thấy rõ mặt hạn chế của học trò. Nếu giáo viên l o là trong việc sửa lỗi phát âm, không hướng dẫn chú ý trọng âm t ừ, ngữ đi ệu trong câu thì khi nghe ngưòi khác phát âm đúng các em không nhận ra và hiểu được ngưòi đối diện nói gì. Mặc khác các em sẽ lúng túng không biết thầy - Ngoài ra,một số âm rất khó phát âm,ngay cả vói học sinh nhỏ bản ngữ + Âm /r/ là âm khó ,học sinh chú ý môi thầy cô,chu môi ra sau đó mở tròn miệng: r r r + Âm /th/ chỉ cho học sinh đạt lưõi giữa hai hàm răng.Chú ý cắn nhẹ đầu lưỡi khi đọc âm này. VD: this, they, these + Âm /l/ bắt đầu đặt đầu lưỡi đằng sau răng trên - Cần chú ý: dấu nhấn (Stress), nhịp điệu (Rhythm), ngữ âm, ngữ điệu (Intonation) là những yếu tố quan trọng trong khi nói Tiếng Anh. Nó giúp ng ười nghe dễ hiể’u nội dung cuộc nói chuyện. + Có ba mức độ nhấn: nhấn chính (The Primary Stress), nhấn phụ (The Secondary Stress), không nhấn (The None- Stress). Thông thường trong Tiếng Anh, dấu nhấn chính thường đặt vào những từ mang ý nghĩa nội dung quan trọng trong câu. + Âm điệu, ngữ điệu: thường lên giọng ở cuối câu hỏi Yes-No và hạ giọng ở câu hỏi Wh-questions. Trong quá trình dạy, nếu một HS gặp khó khăn khi phát âm một yếu tố nào đó, GV không nên bắt HS đó đứng dậy đọc đi đọc lại nhiều lần mà nên yêu cầu cả lóp đọc đồng thanh mẫu đó vài lần. Sau đó học sinh tiếp tục luyện đôi và khi đó giáo viên có thể tiếp tục giúp đỡ những học sinh khó khăn. b/ Hướng dẫn học sinh sử dụng cử chỉ, điệu bộ khi đối thoại bằng Tiêng Anh: - Các bạn thấy đó người nước ngoài khi nói chuyện với chúng ta th ường sử dụng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ diễn đạt điều muốn nói để’ người đối diện dễ hiể’u và có cảm giác gần gũi hon trong giao tiếp. Tại sao chúng ta học ngôn ngữ của họ mà không học cách thể hiện như thế để’ hoàn thiện hon trong giao tiếp. Đây là lý do tôi chọn biện pháp này để góp phần tạo sự tự tin khi đàm tho ại Tiếng Anh. * Thực hiện: - Tôi yêu cầu học sinh trong khi đối thoại thì nói và diễn phải kết họp vói nhau. Nếu hỏi về tên, sức khoẻ, tuổi, ... của người mình muốn hỏi thì chìa tay về người đối diện và tự chỉ vào mình khi nói câu trả lời. Khi hỏi và miêu t ả về đồ vật thì đến chọn hay chạm tay vào đồ vật đó. Chính việc làm này góp phần phát triể’n tốt kỹ năng giao tiếp, giúp học sinh thuộc từ và mẫu câu nhanh hon. Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh xây dựng một đoạn hội tho ại và trình bày lại. Nam : Hello, Mai. How are you today ? (Nam đưa tay vẫy và chìa tay về phía Mai) Mai : Hi, Nam . I'm fine, thank you. (Mai vẫy tay và chỉ vào mình trả lời )
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_phat_trien_ky_nang_noi_tieng_anh_cho_h.docx