SKKN Một số biện pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học tiếng Anh ở Lớp 3
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học tiếng Anh ở Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học tiếng Anh ở Lớp 3

ĐỀ TÀI Tiếng Anh đóng một vai trò hết sức cần thiết và quan trọng trong thời kì phát triển và hội nhập quốc tế. Nhận thức được điều đó, trong nhiều năm gần đây, tiếng Anh đã được đưa vào giảng dạy ở cấp tiểu học. Nội dung chương trình học trang bị cho các em vốn từ vựng, ngữ pháp và những mẫu câu tối thiểu, cơ bản, đơn giản nhất xoay quanh những chủ điểm rất gần gũi, quen thuộc và được các em yêu thích. Mục tiêu chung của việc dạy và học tiếng Anh ở tiểu học là nhằm giúp học sinh có một công cụ giao tiếp mới, bước đầu có khả năng giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh một cách tự tin, có kiến thức cơ bản và tối thiểu về ngôn ngữ tiếng Anh để các em có thể sử dụng tiếng Anh trong học tập cũng như có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hóa của các nước nói tiếng Anh, chuẩn bị hành trang cho các em trở thành những công dân toàn cầu tương lai trong thời kì hội nhập. Đối với học sinh tiểu học nói chung, học sinh ở lớp 3 nói riêng, tiếng Anh mặc dù không còn quá xa lạ song vẫn luôn là một môn học đầy mới mẻ và hấp dẫn. Tuy nhiên, do đặc điểm tâm lí lứa tuổi: học sinh tiểu học thường tò mò, hiếu động, dễ bắt chước, thích tìm hiểu cái mới nhưng cũng chóng chán và mau quên. Không những thế, học sinh ở bậc tiểu học, đặc biệt là ở vùng nông thôn nơi đời sống gặp nhiều khó khăn, các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ học ngoại ngữ còn thiếu thốn, chất lượng học tập bộ môn không đồng bộ. Các em còn quá nhỏ để tự ý thức được tầm quan trọng của việc học bộ môn này. Trong khi đó, tiếng Anh đang là môn học tự chọn, thế nên bản thân học sinh chưa nhận được nhiều sự động viên khích lệ học tiếng Anh từ gia đình. Các bậc phụ huynh chủ yếu chỉ mới tập trung đầu tư cho các con học nâng cao các môn Toán, tiếng Việt......Vì thế có rất ít phụ huynh nơi tôi dạy học quan tâm nhắc nhở các em về việc rèn luyện tiếng Anh ở nhà. Thêm vào đó, với học sinh lớp 3, đây là năm đầu tiên các em làm quen với một ngoại ngữ, trong khi vẫn có một số lượng không nhỏ các em còn chưa học tốt tiếng mẹ đẻ của mình, thế nên bên cạnh những háo hức với những điều mới mẻ mà tiếng Anh mang lại thì khi gặp phải những mẫu câu dài, những từ khó phát âm các em thường cảm thấy e 4. Phạm vi nghiên cứu - Học sinh lớp 4 trường tiểu học Giang Biên, quận Long Biên 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện nội dung của đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản như sau: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp quan sát, điều tra - Phương pháp phân tích, tổng hợp - Phương pháp đúc rút kinh nghiệm PHẦN NỘI DUNG 1. Biện pháp thực hiện Từ thực tế dạy học cũng như qua tham gia các khóa học bồi dưỡng giáo viên về phương pháp giảng dạy tiếng Anh ở bậc tiểu học kết hợp nghiên cứu tài liệu về đặc điểm tâm lí học sinh lứa tuổi tiểu học, tôi nhận thấy để tạo được hứng thú cho các em đối với giờ học tiếng Anh giáo viên cần phải tạo cho các em một môi trường học tập vui vẻ, "học mà chơi, chơi mà học", không áp lực và cũng không được nhàm chán, tẻ nhạt. Với đối tượng là học sinh tiểu học, các em rất yêu thích sự nhẹ nhàng, thoải mái và vui nhộn. Nếu giáo viên tỏ ra quá nghiêm nghị các em sẽ cảm thấy căng thẳng và mệt mỏi, đặc biệt là những học sinh nhút nhát. Vì vậy, chúng ta cần phải nắm rõ đặc thù của môn học, nghiên cứu nội dung từng bài học một cách chu đáo để lựa chọn hoạt động phù hợp, có sức hấp dẫn giúp lôi cuốn các em hào hứng tham gia một cách tự nhiên. Dựa trên tâm lí thích vui chơi, ưa hoạt động, thích nhẹ nhàng, thoải mái tôi đã tìm tòi và lựa chọn ra một số hình thức phù hợp giúp giáo viên tạo hứng thú học tập tiếng Anh cho học sinh lớp 4 một cách hiệu quả hơn. Sau đây tôi xin đưa ra một số hình thức gây hứng thú hữu hiệu mà tôi đã sử dụng: 1.1. Kết hợp trò chơi trong sách giáo khoa với sáng tạo thêm những trò chơi mới. danh từ số nhiều các em sẽ hô: "More". Đội nào xác nhận đúng mỗi từ được một điểm. Kết thúc trò chơi đội nào xác nhận đúng nhiều từ là đội chiến thắng. 1.1.2. Game: Exchanging roles Mục đích: - Giúp học sinh luyện (thành thạo) câu hỏi và cách trả lời / mẫu câu đối đáp trong tiết học ngữ liệu mới. Ví dụ: Mẫu câu: How are you? - I'm fine, thank you. (Unit 3 - Lesson 1(1, 2) - Page 18 - Tiếng Anh 3) Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 đội. Giáo viên chỉ vào một học sinh ở đội 1 và hỏi: "How are you?". Học sinh đó đáp lại "I'm fine, thank you." Ngược lại, nếu giáo viên nói" I'm fine, thank you." Học sinh được chỉ sẽ phải nói: "How are you?". Học sinh không đáp lại được sẽ đứng qua một bên. Giáo viên làm tương tự với học sinh ở đội 2. Kết thúc trò chơi, đội nào có số lượng thành viên bị đứng qua một bên ít hơn là đội thắng. Trò chơi này cũng có thể dùng để luyện tập mẫu câu hỏi và trả lời trong tiết ôn tập. Khi đó giáo viên cần phải giới thiệu lại các mẫu câu cần ôn tập trong tiết học. Giáo viên viết sẵn các mẫu câu hỏi và trả lời lên một tờ giấy khổ rộng và gọi học sinh đọc hết tất cả các câu. Sau đó giáo viên mới tiến hành trò chơi với các bước tương tự như trên. Ví dụ: Lesson: Review 2 - Tiếng Anh 3 What school is it? - Park Primary School. Is this a classroom? - Yes, it is. What's this ? - It's a book. What are these? - They're books. What do you do at break time? - I chat with my friends. Việc sử dụng nhiều mẫu câu đã học trong chương trình sẽ làm cho học sinh tránh được sự nhàm chán và tập cho các em khả năng phản xạ nhanh với tình huống giao tiếp. 1.1.3. Game: Secret box/ bag. Trò chơi này có thể sử dụng không chỉ để giúp học sinh luyện tập cách đánh vần tên mà cũng có thể áp dụng vào việc giúp học sinh luyện tập ghi nhớ cách viết mỗi từ mà các em đã học. 1.2. Sử dụng hoạt động chân tay và ngôn ngữ cử chỉ. Đặc tính của học sinh lứa tuổi tiểu học nói chung, học sinh lớp 3 nói riêng thường rất hiếu động. Vì vậy các em rất khó để ngồi yên, nghiêm túc trong suốt giờ học, đặc biệt là những em học sinh vốn hay nghịch ngợm và học yếu. Nếu nội dung bài học không hấp dẫn, không phù hợp với khả năng của những học sinh này các em thường hay nghịch phá, trêu chọc các bạn bên cạnh hoặc là làm việc riêng. Bên cạnh đó, trong lớp thường có một số học sinh nhút nhát, không mạnh dạn thể hiện mình trước đám đông khi giáo viên cho các em đó thực hành cá nhân. Thế nên việc cho các em sử dụng hoạt động chân tay và các hình thức ngôn ngữ cơ thể khác sẽ là một phương pháp hiệu quả giúp các em thay đổi không khí học tập, cảm thấy thoải mái và đỡ nhàm chán hơn. Đây là một hoạt động có tính lôi cuốn số đông học sinh cùng chú ý và tham gia. Luyện tập những hoạt động này thường xuyên cũng khiến cho học sinh tạo thói quen tự nhiên trong giao tiếp, bạo dạn khi đứng trước đám đông, nâng cao khả năng diễn xuất bằng hành động. Cũng chính từ điều này những học sinh rụt rè sẽ trở nên tự tin hơn trước bạn bè. Giờ học tiếng Anh nhờ đó mà trở nên vui vẻ, thoải mái và sinh động hơn. Hoạt động này có thể dùng để luyện tập từ vựng, hoặc minh họa cho các bài chant, bài hát trong chương trình học. Giáo viên phải nghiên cứu nội dung, tìm đúng động tác có ý nghĩa minh họa và dễ bắt chước để các em làm theo. 1.2.1. Động tác minh họa kết hợp với bài hát: Ví dụ 1: Bài hát "What is your name?" (Let's sing - Lesson 1 - Unit 4 - Tiếng Anh 3 ). Hello! Hello! What's your name? My name's Linda. Look. Look. A big book. Look. Look. A small book. Big, small. Big, small. Big and small together. Câu 1: Look. Look. (Học sinh làm động tác như trong hình 1) (Hình 1) Câu 2: A big book. (Học sinh giang rộng hai tay minh họa cho hình ảnh một quyển sách lớn.) Câu 3: Làm động tác như hình 1. (Hình 2) Câu 4: A small book. (Động tác này minh họa cho hình ảnh một quyển sách nhỏ.) Above: Đưa bàn tay phải lên phía trên của tay trái (và giữa hai bàn tay phải có khoảng cách) Under: Đặt bàn tay phải dưới bàn tay trái. Behind: Đưa bàn tay phải ra phía sau bàn tay trái. Ví dụ 2: Unit 15 - At home - Lesson one Trong bài này các em học về các từ chỉ hoạt động: skip, read, cook, sing, skate, jump, run. Đối với học sinh lớp 3 trong một tiết học có đến bảy từ mới để học thuộc là tương đối nhiều và không dễ thuộc. Thế nên để giúp các em nhớ nhanh hơn, giáo viên có thể cho các em vừa đọc từ vừa làm các động tác minh họa: Skip: Học sinh làm động tác như đang nhảy dây. Read: Học sinh xòe hai bàn tay minh họa cho hình ảnh quyển sách đang mở ra để đọc. Cook: Học sinh cúi người hơi khom về phía trước, tay phải làm động tác khuấy khuấy như đang nấu ăn. Sing: Học sinh nắm bàn tay phải và đưa lên gần miệng, người nhún nhảy để làm động tác như đang hát. Skate: Học sinh đứng bằng chân phải, chân trái đưa ra phía sau như đang trượt băng. Jump: Học sinh đứng tại chỗ và nhảy bật lên cao. Run: Học sinh làm động tác chạy tại chỗ. 1. 3. Đổi mới phương pháp quản lý lớp học. Để tạo không khí thoải mái và một môi trường học tập đúng theo đặc trưng của bộ môn tiếng Anh - là học ngôn ngữ sử dụng vào giao tiếp, giáo viên nên thay đổi phương pháp quản lý học sinh. Thay vì quản lý học sinh bằng thước hoặc nói lớn tiếng, nặng lời khi lớp học ồn thì giáo viên cần phải thiết lập cho các em hệ thống các thói quen. Điều đó có nghĩa là ngay từ tiết học đầu tiên, giáo viên sẽ đưa ra một trong trường hợp bắt đầu hoặc kết thúc một hoạt động học tập. Giáo viên sẽ hình thành cho các em thói quen nghe âm thanh để hiểu hiệu lệnh. Ví dụ, giáo viên sử dụng hình thức rung quả chuông nhỏ là dấu hiệu để bắt đầu và kết thúc một trò chơi. Giáo viên có thể quy ước với học sinh: "short ring means start, long ring means stop and listen to the teacher". Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng âm thanh rất đơn giản và sẵn có để các em tập trung chú ý vào giáo viên – đó chính là "clap hands". Giáo viên vỗ tay một tiếng và nói "Let's start" khi bắt đầu một hoạt động (ví dụ: speaking practice), vỗ tay ba tiếng khi kết thúc và nói "Let's stop and listen to me". Giáo viên thường xuyên sử dụng lời nói kết hợp âm thanh. Sau một thời gian nhất định, giáo viên không cần phải dùng lời mà bản thân học sinh sẽ hiểu được yêu cầu khi nghe tiếng vỗ tay của người dạy: "clap once means start the activity and clap three times means stop and listen to the teacher". Bên cạnh đó giáo viên hãy nên tập sử dụng ngôn ngữ cơ thể - hệ thống cử chỉ để tập trung sự chú ý của học sinh. Với phương pháp này, giáo viên cũng phải hình thành cho các em thói quen nhìn cử chỉ hiểu yêu cầu của giáo viên. Ví dụ: Khi học sinh đang ồn ào, giáo viên có thể đứng yên, giơ cao cánh tay phải để gây sự chú ý của học sinh, đặt ngón trỏ của tay trái lên môi". Yêu cầu tất cả các em đều làm theo hành động của giáo viên cho đến khi tất cả các em đều trật tự và im lặng để lắng nghe yêu cầu tiếp theo của giáo viên. Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng những bài hát ngắn (short songs) hoặc những bài chants để ổn định trật tự lớp học vào đầu hoặc cuối giờ. Bên cạnh đó, việc sử dụng "short songs" hoặc"chants" xen giữa các hoạt động của bài học sẽ giúp làm thay đổi không khí học tập, giúp các em cảm thấy thoải mái, dễ chịu hơn khi tiếp tục tham gia vào những hoạt động học tập tiếp theo. Biết cách sáng tạo và sử dụng một cách phù hợp các hình thức mới trong quản lý lớp học sẽ giúp giáo viên không phải dùng quá nhiều sức lực, không phải hét to để yêu cầu học sinh nghe theo mệnh lệnh của mình đồng thời tạo cho giờ học tiếng Anh đúng với đặc trưng của giờ học ngôn ngữ giao tiếp.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_gop_phan_tao_hung_thu_cho_hoc_sinh_tro.docx