Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH XUÂN NAM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH Môn : Toán Cấp học : Tiểu học Tên tác giả : Phạm Thị Lăng Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Thanh Xuân Nam Chức vụ : Giáo viên Năm học: 2019 - 2020 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách và tư duy con người. Trong đó, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì các kiến thức, kĩ năng của môn Toán được ứng dụng nhiều trong cuộc sống lao động và học tập. Toán học rất đa dạng, phong phú, có nhiều bài toán thuộc nhiều dạng toán khác nhau. Trong đó, bài toán có lời văn giữ một vị trí rất quan trọng bởi nó thể hiện mối quan hệ với các môn học khác cũng như mối quan hệ trong thực tiễn cuộc sống. Trong cấu trúc nội dung môn Toán ở lớp 3, các bài toán có lời văn được sắp xếp gắn liền với nội dung từng mạch kiến thức. Mỗi khi học một nội dung kiến thức mới, bao giờ học sinh cũng được thực hành giải các bài toán có lời văn để củng cố nội dung kiến thức đó. Mỗi bài toán có lời văn là một tình huống có vấn đề buộc các em phải tư duy, suy luận, phân tích và tổng hợp để giải quyết vấn đề. Nếu các em giải tốt được các bài toán có lời văn thì những vấn đề gặp trong cuộc sống sẽ được các em vận dụng và giải quyết hợp lí. Trên cơ sở học sinh đã được học các dạng toán về “Nhiều hơn”; “Ít hơn”; “Tìm tổng của hai số”; “So sánh hai số hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị”; “Gấp một số lên nhiều lần”; “Giảm đi một số lần”; “Thêm một số đơn vị”; “Giảm đi một số đơn vị”,... chỉ giải bằng một phép tính, từ tuần 11, học sinh được làm quen với “Bài toán giải bằng hai phép tính”. Vì vậy, để giúp học sinh biết giải bài toán bằng hai phép tính thành thạo thì người giáo viên cần lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp, kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh nắm được các bước giải để vận dụng trong thực tế được tốt. Thông qua nội dung thực tế nhiều hình nhiều vẻ của các đề toán, học sinh sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng những kiến thức toán học vào cuộc sống. Mỗi đề toán là một bức tranh thu nhỏ của cuộc sống. Khi giải mỗi bài toán, học sinh biết rút ra từ bức tranh ấy bản chất toán học của nó, biết lựa chọn những phép tính thích hợp, biết đặt lời giải chính xác... Vì thế quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát và giải quyết các hiện tượng của cuộc sống qua con mắt toán học của mình. Việc giải các bài toán có lời văn sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thói quen làm việc một cách khoa học cho học sinh. Bởi vì khi giải toán có lời văn, học sinh phải tập trung vào bản chất của đề toán, biết gạt bỏ những cái thứ yếu, phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, biết phân tích để tìm ra mối liên hệ giữa các số liệu. Nhờ đó mà đầu óc các em sẽ sáng suốt hơn, tư duy của các em sẽ linh hoạt, chính xác hơn, cách suy nghĩ và làm việc sẽ khoa học hơn. Khi giải bài toán có lời văn còn đòi hỏi học sinh phải biết tự mình xem xét, tìm tòi cách giải quyết vấn đề; Tự mình thực hiện các phép tính và kiểm tra lại kết quả... Do đó giải bài toán có lời văn là một cách rất tốt để rèn luyện đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo, chính xác cho học sinh. 1/15 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính. PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận. Toán học là một môn khoa học ra đời từ rất sớm . Đây là một môn học khó nhưng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Nó là nền tảng cơ bản để ra đời nhiều ngành khoa học khác nhằm phục vụ cho những nhu cầu phát triển chung của xã hội loài người. Bởi vậy đã từ rất lâu, Toán học đã khẳng định vị trí của nó trong nền giáo dục của mọi quốc gia trên thế giới. Riêng ở nước ta, Toán học là môn được trẻ làm quen từ những năm học của bậc Mầm non và trở thành một môn học chính thức bắt đầu từ bậc Tiểu học. Môn Toán giúp học sinh rèn luyện rất nhiều kĩ năng như: cộng, trừ, nhân, chia, giải toán có lời văn; Đồng thời giúp các em phát triển khả năng tư duy logic, óc quan sát, phán đoán, tưởng tượng, khả năng khái quát hóa. Không những thế, môn học này còn rèn luyện cho các em những phẩm chất đạo đức quý báu như tính chính xác, kiên trì, cẩn thận và tạo cho các em tác phong làm việc độc lập, sáng tạo. Toán học cũng là chìa khóa mở ra sự phát triển của các môn khoa học khác. 2. Nội dung chương trình môn Toán lớp 3. Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê, phân tích các hướng nghiên cứu giải toán có lời văn trong môn Toán của chương trình sách giáo khoa lớp 3 phục vụ cho việc giảng dạy. Tôi nhận thấy nội dung về giải bài toán có lời văn được đưa vào giảng dạy trong chương trình Toán lớp 3 gồm : 1. Bài toán về nhiều hơn, ít hơn; So sánh hai số hơn, kém nhau bao nhiêu đơn vị; Tìm tổng của hai số. 2. Bài toán về gấp một số lên nhiều lần; Giảm đi một số lần; Tìm một phần mấy của một số; Bài toán về tích của hai số - chia thành các phần bằng nhau - chia thành nhóm. 3. Bài toán về quan hệ giữa thành phần và kết quả phép tính. 4. So sánh số lớp gấp mấy lần số bé; So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn. 5. Bài toán liên quan đến rút về đơn vị. 6. Bài về đại lượng và đo đại lượng, về hình học (tính chu vi, diện tích). 3. Mục tiêu của môn Toán lớp 3. Dạy học toán ở lớp 3 nhằm giúp học sinh: - Biết đếm, đọc, viết các số trong phạm vi 100 000. - Biết so sánh và sắp xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại. - Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100 000. - Biết tính giá trị của biểu thức số có đến hai dấu phép tính . - Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính. 3/15 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính. Một thùng đựng 24 l mật ong, lấy ra 1 số lít mật ong đó. Hỏi trong thùng còn 3 lại bao nhiêu lít mật ong ? - Khi giải bài toán này, có học sinh chỉ giải bằng 1 phép tính như sau: Trong thùng còn lại số lít mật ong là: 24: 3= 8 ( l mật ong) Đáp số: 8 l mật ong. * Nguyên nhân: Các em chưa đọc kĩ bài toán nên không hiểu mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán, không xác định đúng câu hỏi của bài toán. Các em chưa có thói quen kiểm tra kết quả sau khi đã làm. Năm học 2019 - 2020 này, lớp 3A2 do tôi phụ trách có 62 học sinh. Đa số em có ý thức học tốt, nhiều em tiếp thu bài nhanh; Song bên cạnh đó cũng còn một số em do tính chưa cẩn thận, chưa tập trung khi làm bài nên kết quả học tập chưa được như mong muốn. Để kiểm tra việc thực hiện giải bài toán bằng hai phép tính của các em, tôi đã ra một bài khảo sát. Qua kết quả khảo sát, tôi thấy có 1 số học sinh làm không đúng là do: + Viết sai lời giải hoặc viết phép tính sai. Tính toán ẩu nên tính sai kết quả; + Giải bằng một phép tính đã đáp số, có học sinh lại viết 2 đáp số. (Đề khảo sát và bảng kết quả cụ thể tại phụ lục 1) III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 1. Phân loại đối tượng học sinh. Sau khi cho học sinh làm khảo sát và qua các tiết học toán đầu năm, tôi đã tìm hiểu và nhận thấy một số điểm yếu của học sinh trong lớp như sau: - Học sinh còn thụ động trong suy nghĩ, thường nôn nóng, đọc qua loa đề bài, chưa chú ý đến các dữ kiện, dữ liệu của bài toán, chưa xác định đúng yêu cầu của bài toán; - Khả năng suy luận còn hạn chế dẫn đến máy móc, bắt chước, chỉ giải được các dạng toán có sẵn, khi gặp bài toán ở dạng biến đổi thì không làm được; - Kĩ năng tính toán còn thiếu chính xác dẫn đến khi giải toán hay sai kết quả; - Một số em chưa biết cách trình bày bài toán. 2. Tìm hiểu nội dung của kiến thức bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3. Qua nghiên cứu sách Toán lớp 3, tôi thấy bắt đầu từ tuần 11, học sinh được làm quen với bài toán giải bằng hai phép tính. Từ đó, các bài toán giải bằng hai phép tính được đưa xen kẽ vào trong chương trình, lồng ghép với các kiến thức mới tương đối nhiều. Chẳng hạn, sau khi học sinh học bảng chia 8, đến tiết luyện tập (trang 60) có bài tập 3 vừa giúp học sinh củng cố bảng chia 8, đồng thời cũng giúp học sinh củng cố về giải bài toán bằng hai phép tính. Hoặc sau khi học bài “So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn”, đến tiết “Luyện tập” (trang 62) có bài tập 2 vừa giúp học sinh củng cố về so sánh số bé bằng một phần 5/15 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính. Ví dụ 2: Bài 2 (Tiết Luyện tập - Sách Toán 3, trang 62) Với cách dẫn dắt như ví dụ 1, hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng lời. Có 7 con trâu, số bò nhiều hơn số trâu là 28 con. Hỏi số trâu bằng một phần mấy số bò ? Tóm tắt: Trâu : 7 con Bò nhiều hơn trâu : 28 con Số trâu : 1 Số bò ? Ví dụ 3: Bài 3 (Tiết Luyện tập chung - Sách Toán 3, trang 106) Với cách dẫn dắt tương tự ví dụ 1, 2; tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng: Một đội trồng cây đã trồng được 948 cây, sau đó trồng thêm được bằng 1 số cây 3 đã trồng. Hỏi đội đó đã trồng được tất cả bao nhiêu cây ? Tóm tắt: 948 cây ? cây Đã trồng : Trồng thêm: Ví dụ 4 : Hình chữ nhật ABCD có chiều rộng 3cm, chiều dài gấp đôi chiều rộng. Tính chu vi của hình chữ nhật đó ? Với cách dẫn dắt như các ví dụ trên, tôi hướng dẫn học sinh có thể tóm tắt bài toán bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng: Hình chữ nhật ABCD có chiều rộng 3cm, chiều dài gấp đôi chiều rộng. Tính chu vi của hình chữ nhật đó ? Cách 1: Cách 2: 3cm Chiều rộng : 3cm Chiều rộng : Chiều dài : gấp đôi chiều rộng Chiều dài : Chu vi : ... cm ? Chu vi :... cm ? Thực tế, một bài toán có thể có nhiều cách tóm tắt. Tuy nhiên tôi luôn hướng dẫn các em chọn cách tóm tắt nào dễ hiểu nhất. Với những bài toán có liên quan đến “Nhiều hơn; Ít hơn; Gấp lên một số lần; Giảm đi một số lần; Tìm một phần mấy của một số”, tôi luôn khuyến khích học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng để các em dễ nhận thấy mối quan hệ giữa các đại lượng đã cho. 3.2. Bước 2: Phân tích đề toán để tìm cách giải. Bước phân tích đề toán để tìm ra cách giải là bước quan trọng nhất trong quá trình giải một bài toán của học sinh; Đồng thời cũng là bước khó khăn nhất đối với các em. Vì vậy, khi giải một bài toán có lời văn, tôi thường xuyên rèn luyện, hướng dẫn các em phân tích từng bước một cách rõ ràng, chính xác thông qua hệ thống câu hỏi, câu trả lời ngắn gọn, dễ hiểu. Cụ thể, tôi hướng dẫn học sinh bằng cách đi từ câu hỏi của bài toán đến các dữ kiện đã cho. Giúp học sinh hiểu bài toán giải bằng hai phép tính chính là một dạng bài toán có lời văn mà khi giải bài toán đó (mặc dù đầu bài chỉ có một câu hỏi) nhưng phải tiến hành giải hai bài toán đơn (tức là giải bằng 2 phép tính). Dần dần các em sẽ quen và biết phân tích, lập sơ đồ để tìm cách giải một cách đúng đắn và nhanh chóng. 7/15
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_3_g.doc