Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp khi dạy các bài phép nhân trong bảng ở Lớp 3

doc 16 trang sangkienlop3 28/02/2024 3040
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp khi dạy các bài phép nhân trong bảng ở Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp khi dạy các bài phép nhân trong bảng ở Lớp 3

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp khi dạy các bài phép nhân trong bảng ở Lớp 3
 ủy ban nhân dân quận thanh xuân
 Trường tiểu học nguyễn trãi
 ---------------------
 Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài:
 Một số biện pháp khi dạy các bài
 phép nhân trong bảng
 Lĩnh vực : Chuyên môn
 Người viết : Trần Lệ Huyền
 Chức danh : Giáo viên chủ nhiệm lớp 3I
 Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Nguyễn Trãi
 năm học 2013 - 2014 phép nhân. Tiếp theo giáo viên đưa ra phép nhân, học sinh chuyển thành phép 
cộng để tìm kết quả. Nêu khoảng 2,3 ví dụ, học sinh sẽ lập được bảng nhân.
 ví dụ: Khi dạy bài phép nhân có thừa số 4, giáo viên đưa ra ví dụ trong 
sách giáo khoa.
 1. Hình thành bảng nhân.
 a. 4 + 4 + 4 + 4 = ?
 - Học sinh tính toán và kết quả bằng 20 
 - Có mấy số hạng giống nhau ? ( 5 số hạng)
 - Đổi thành phép nhân : 4 x 5 = 20 
 b. 4 x 6 (chuyển phép nhân bằng phép cộng)
 - Đổi thành tích tổng.
 4 x 6 = 4 + 4 + 4 + 4 + 4 + 4.
 - Tính tổng 4 + 4 + 4 + 4 + 4 + 4 = 24
 - Rút ra kết quả : 4 x 6 = 24
 Từ 2 ví dụ trên giáo viên cho học sinh thấy nếu tăng ở tích lên 1 lần 4 thì 
kết quả tăng lên 4 đơn vị. Do đó ta có thể lập nên bảng nhân 4 (bảng thứ nhất).
 4 x 1 = 4
 4 x 2 = 8
 ...............
 4 x 10 = 40
 2. Luyện đọc thuộc bảng nhân: Sau khi thành lập được bảng nhân 
giáo viên đọc trước, cho một vài em đọc, cả lớp đọc đồng thanh.
 Khi học sinh đã thuộc bảng nhân thứ nhất, giáo viên đưa ra bảng nhân thứ 
hai.
 Ví dụ : 1 x 4 = 4
 2 x 4 = 8 
 ...............
 10 x 4 = 40
 2 Đối với một tiết dạy thành lập bảng nhân, tôi đã tiến hành theo các bước 
sau:
 Bảng nhân thứ nhất Bảng nhân thứ hai 
B1: Hình thành bảng nhân thứ nhất B1: Hình thành bảng nhân thứ hai
B2: Học thuộc bảng nhân thứ nhất B2: Học thuộc bảng nhân thứ hai
B3: Luyện tập B3: Luyện tập
 B4: Củng cố
 A: Bước 1: Hình thành bảng nhân
 1. Đối với các phép nhân có thừa số 2,3,4, (những bảng nhân đầu), tôi 
thường tiến hành theo các bước sau:
 Ví dụ: Khi dạy bài: Phép nhân có thừa số 4
 Phép nhân là phép cộng các số hạng bằng nhau. Muốn hình thành phép 
nhân thì ta phải bắt đầu từ phép cộng các số hạng bằng nhau. Nhưng nếu như 
giáo viên chỉ được ra một loạt các phép cộng có các số hạng bằng nhau rồi học 
sinh chuyển thành phép nhân thì tiết học sẽ nhàm chán . Bằng đồ dùng trực 
quan, được mắt thấy, tay hoạt động các em dễ dàng tiếp thu hơn. Vả lại, nó giúp 
các em bước đầu làm quen với những bài toán đố sau này. Đối với các em, que 
tính là vật rất gần gũi các em có sẵn, dễ thực hành. Vì vậy khi thành lập bảng 
nhân 4, yêu cầu học sinh lấy que tính bó thành nhiều bó, mỗi bó gồm 4 que tính. 
Lúc thực hành, các em làm sẽ nhanh, gọn, rõ ràng, nổi bật được vấn đề nếu giáo 
viên yêu cầu nhận xét về số lần lấy, kết quả lấy .
 - Sau khi học sinh có những bó 4 que tính, tôi yêu cầu các em:
 - Hãy lấy 1 lần 4 que tính -> có 4 que tính
 - Hãy lấy 2 lần 4 que tính -> có ( 4 + 4) que tính.
 + Học sinh tính kết quả bằng 8 que tính
 + Có mấy số hạng giống nhau? (2 số hạng)
 + Các số hạng đều bằng mấy ? (bằng 4)
 + Đổi phép cộng bằng phép nhân ( 4 x 2 ) = 8 
 - Hãy lấy 3 lần 4 que tính -> có (4 + 4 + 4) que tính
 4 Khi thành lập bảng nhân cuối giáo viên không phải máy móc hình thành 
lại tất cả những phép nhân đã có trong các bảng trước bằng đồ dùng trực quan . 
Vì như vậy chỉ là một việc làm thừa, không có tác dụng. ở đây ta có sử dụng trực 
quan nhưng cách làm sẽ khác. Giáo viên và học sinh cùng tham gia. Chủ yếu 
giáo viên gợi ý để học sinh biết rút ra qui luật tính để tính cho nhanh . Như vậy, 
ta đã dần dần đưa các em tiến tới tư duy trìu tượng hơn .
 * Dựa vào các bảng nhân đã học, học sinh làm bài tập:
 1 x 8 = 5 x 8 = 
 8 x 1 = 8 x 5 = 
 2 x 8 = 6 x 8 = 
 8 x 2 = 8 x 6 = 
 3 x 8 = 7 x 8 =
 8 x 3 = 8 x 7 = 
 4 x 8 = 8 x 4 = 
 Như vậy, các em có thể nêu ngay được kết quả các phép tính:
 8 x 1, 8 x 2, 8 x 3, 8 x 4, 8 x 5, 8 x 6, 8 x 7,
 Để giúp các em tìm được kết quả của các phép tính 8x8, 8x9, 8x10 tôi đưa 
ra ví dụ sau:
 * Trong hội thi khéo tay hay làm, Bình cắt được một số hoa. Mỗi lần, Bình 
cắt được 8 bông hoa và đã cắt tất cả 7 lần. Như vậy Bình cắt được tất cả bao 
nhiêu bông hoa?.
 Dựa vào bảng nhân trước, học sinh tính được số hoa bằng cách lấy.
 8 x 7 = 56
 Giáo viên viết 8 x 7
 56
 Giả sử Bình cắt thêm một lần nữa được 8 bông hoa như vậy để biết sau 8 
lần cắt Bình cắt được bao nhiêu bông hoa thì con làm như thế nào?
 ( 8 x 7 + 8 )
 8 x7 = ? Vậy con có tìm được kết quả 8 x 7 + 8 không ?
 8 x 7 + 8 chính là 8 x ? ( 8 x 8 )
 6 hợp lý trong môn toán làm cho giờ học hấp dẫn. Hệ thống các bài tập đưa ra phải 
đa dạng, phong phú. Có nhiều dạng bài tập . Có thể là tính, điền số, trắc nghiệm, 
toán đố, tìm x ... nhưng giáo viên cần phải lựa chọn cho hợp lý. Để tránh cho học 
sinh xuôi chiều và nâng cao hơn một chút sau bảng nhân thứ nhất, tôi đưa ra 
các bài tập sau: 
 ( Có thể là thừa số, là tích )
 4 x = 16 6 x = 6
 x 3 = 12 36 = 4 x 
 4 x = 20 8 = x 2
 Học sinh phải thuộc bảng nhân 4 thứ nhất thì sẽ điền được ngay số vào ô 
trống.
 * Đối với bài phép nhân có thừa số 8.
 Các em hay thích bắt chước cô giáo, giáo viên có thể cho các em dạng bài 
toán trắc nghiệm kiểm tra đúng sai. Tự mình được đánh giá bài làm, các em 
thích thú và qua đó cũng là củng cố bảng nhân đã học .
 Điền Đ hoặc S.
 8 x 2 = 10 8 x 4 = 32
 8 x 3 = 24 8 x 5 = 40
 8 x 1 = 8 8 x 0 = 8 
 8 x 6 = 46 8 x 7 = 56
 Biết được kết quả đúng hay sai chứng tỏ các em thuộc bảng nhân.
 Thuộc bảng nhân thứ hai rồi, các em cũng lại được luyện tập qua các bài 
như:
 Ví dụ: Phép nhân thừa số 4:
 8 - Nhìn tóm tắt rồi giải (tóm tắt có thể bằng lời hoặc bằng sơ đồ)
 - Nhìn tranh đặt đề toán rồi giải.
 Tuỳ theo từng bài mà giáo viên đưa ra bài tập cho phù hợp.
 Ví dụ: Bài: Phép nhân có thừa số 4.
 Cho tóm tắt, yêu cầu học sinh giải.
 1 bạn: 5 quyển vở
 4 bạn : ? quyển vở
 Tôi đặt câu hỏi gợi ý đầu bài cho biết dữ kiện gì? Hỏi cái gì?
 Muốn biết 4 bạn có bao nhiêu quyển vở, con làm tính gì?
 * Bài: Phép nhân có thừa số 8:
 Từ những dạng toán đã quen thuộc, giáo viên có thể phát triển khả năng tư 
duy của các em bằng cách cho các em đặt đề toán phù hợp với nội dung của bức 
tranh và giải.
 Bức tranh của tôi vẽ 8 con cua mỗi con có 2 càng, 8 chân. Tôi yêu cầu các 
em quan sát thật kỹ bức tranh và cho biết:
 - Bức tranh vẽ con gì ? (con cua)
 - Có mấy con cua ? (8 con).
 - Mỗi con cua có mấy càng ? (2 càng)
 - Và mấy cái chân ? (8 chân)
 Có thể gọi 3 em đặt đề. Các bạn khác nhận xét.
 Khi đã đặt đề xong, học sinh nêu tóm tắt rồi giải.
 Từ hình vẽ đó, tôi có thể che bớt đi một số con cua. Học sinh nhìn vào 
tranh và có thể đặt được thêm những đề toán khác. Như vậy, từ một bức tranh 
thôi, giáo viên có thể tạo ra cho các em nhiều đề bài mà tự học sinh đặt đề và tự 
học sinh giải toán. Từ đó tư duy của các em càng được phát triển. Học sinh cảm 
thấy thích thú, giờ học sẽ sôi nổi hẳn lên.
 Bước 4: Củng cố:
 Trong giờ học, các em phải ngồi chăm chú nghe giảng , nhớ kiến thức 
mới, vận dụng kiến thức để làm bài tập . Trong khi đó học sinh tiểu học không 
 10 Các kết quả ghi trong giấy là :
 24 , 48 , 8
 Với cách học sinh qua trò chơi này, học sinh vừa được củng cố lại kiến 
thức vừa học, đồng thời rèn luyện cho học sinh tính nhanh nhẹn, tự tin trong việc 
học toán.
 IV. kết quả:
 Trên đây là tiến trình tôi đã áp dụng trong giờ toán khi dạy phép nhân 
trong bảng. Tôi nhận thấy rằng:
 - Trong giờ Toán của lớp tôi, học sinh tiếp thu bài nhanh, hiểu bài sâu, nhớ 
bài lâu và giải được tất cả các bài tập có liên quan với phép nhân từ dễ đến khó.
 Phát huy được tính tích cực của học sinh. Các em chủ động, tự tin trong 
việc chiếm lĩnh kiến thức mới. Học sinh hứng thú khi được thực hành trên đồ 
dùng tạo ra không khí sôi nổi, thầy trò làm việc nhịp nhàng. Từ chỗ học sinh sợ 
học toán nay các em đã hứng thứ học tập, mong được tìm hiểu, khám phá ra 
những kiến thức mới. Các em phấn khởi với kết quả mình đạt được.
 - Giáo viên không phải nói nhiều, chỉ là người gợi mở cho các em .
 Kết quả qua các lần kiểm tra định kỳ với số liệu như sau:
 Điểm số 
 Bài kiểm tra Số bài
 1-2 3-4 5-6 7-8 9-10
Đầu năm 54 0 0 6 20 28
Giữa học kỳ 1 54 0 0 2 13 39
Cuối học kỳ 1 54 0 0 0 7 47
Giữa học kỳ 2 54 0 0 0 4 50
 Trong những năm qua, khi dạy các bài về nhân trong bảng, với phương 
pháp này sau giờ học, tôi thấy tiết học nhẹ nhàng, hấp dẫn, học sinh nắm chắc 
bài một cách thoải mái không gò bó, căng thẳng.
 12 VII. kết luận:
 Trên đây là một số những suy nghĩ và phương pháp mà tôi đã tiến hành 
trong giờ toán dạy thành lập phép nhân.
 "Nhân trong bảng" chỉ là một phần của kiến thức toán lớp 3 nhưng nó vô 
cùng quan trọng. Có thuộc được những bảng nhân thì mới có thể làm nhanh 
những bài toán nhân số có nhiều chữ số sau này. Muốn học giỏi toán cần phải 
học chắc ngay từng bài. Chính vì vậy, tôi rất coi trọng đến việc thiết kế một bài 
giảng sao cho hiệu quả nhất.
 Ngày 26 tháng 3 năm 2014
 Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm do 
 mình viết không sao chép nội dung của người khác.
 Người viết
 Trần Lệ Huyền
 14

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_khi_day_cac_bai_phep.doc