SKKN Kinh nghiệm dạy học phân hoá trong môn Tiếng Việt Lớp 3 theo Mô hình trường học mới VNEN

doc 25 trang sangkienlop3 12/11/2023 3810
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Kinh nghiệm dạy học phân hoá trong môn Tiếng Việt Lớp 3 theo Mô hình trường học mới VNEN", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Kinh nghiệm dạy học phân hoá trong môn Tiếng Việt Lớp 3 theo Mô hình trường học mới VNEN

SKKN Kinh nghiệm dạy học phân hoá trong môn Tiếng Việt Lớp 3 theo Mô hình trường học mới VNEN
 Kinh nghiệm dạy học phân hóa trong môn Tiếng Việt lớp Ba
I. Phần mở đầu: 
I.1. Lý do chọn đề tài.
 Trong những năm gần đây thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp dạy học 
ở cấp tiểu học đã có những thay đổi rõ rệt. Từ phương pháp dạy học đến nội dung 
chương trình và cách kiểm tra đánh giá học sinh,...Tuy nhiên có một sự thay đổi lớn 
hơn đó là thay đổi trong nhận thức của người giáo viên về giáo dục tiểu học. Nếu như 
trước đây học sinh tiểu học đến trường chỉ được học hai môn công cụ đó là Toán và 
Tiếng Việt thì hiện nay yêu cầu phát triển toàn diện càng ngày càng được chú trọng. 
Khi đến trường các em không chỉ được học hai môn công cụ mà còn được học rất 
nhiều môn khác nhau như: Tin học, Ngoại ngữ, Mỹ thuật, Âm nhạc,theo đúng nghĩa 
của một môn học.
 Trong công cuộc đổi mới giáo dục bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành theo ba 
hướng: Đổi mới sách giáo khoa ở tất cả các cấp học phổ thông, đổi mới phương pháp 
dạy học, đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh. Đi đôi với việc đổi mới SGK, đổi 
mới chương trình là đổi mới phương pháp dạy học, được tiến hành với phần đông giáo 
viên đang trực tiếp giảng dạy trên lớp hiện nay. Nhiều giáo viên đã thực hiện áp dụng 
phương pháp mới nhưng chưa hiệu quả, chưa tích cực hóa và khơi dậy được năng lực 
học tập thực sự của tất cả các đối tượng học sinh. Hầu hết các giáo viên chỉ mới quan 
tâm đến đối tượng học sinh có lực học trung bình, nắm được kiến thức cơ bản trong tài 
liệu hướng dẫn, còn đối tượng học sinh khá giỏi có năng lực tư duy sáng tạo và học 
sinh có lực học yếu kém còn chưa được quan tâm, bồi dưỡng đúng mức trong giờ học, 
chưa khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của từng cá nhân học 
sinh. Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, việc bồi dưỡng học sinh giỏi là 
vấn đề rất cần thiết và cần được thực hiện ngay ở trong những tiết học đại trà nhằm 
phát hiện và bồi dưỡng, ươm mầm những tài năng cho đất nước trong tương lai. 
Không những đảm bảo chất lượng phổ cập đại trà mà đồng thời chú trọng phát hiện và 
bồi dưỡng học sinh có năng khiếu về Tiếng Việt, Toán và các môn học khác. Từ trước 
đến nay, đổi mới phương pháp dạy học chưa được chú trọng đúng mức, hầu hết các 
giáo viên chỉ dừng ở mức độ trang bị kiến thức cơ bản cho đối tượng học sinh có lực 
học loại trung bình đại trà trong lớp, chưa thực sự quan tâm bồi dưỡng đến đối tượng 
học sinh khá giỏi. Bởi lẽ họ chưa mạnh dạn, sợ cháy thời gian, không đủ thời gian 
ngại đầu tư thời gian nghiên cứu bài. Có những giáo viên vẫn dạy theo cách như đã 
dạy từ mấy chục năm qua, phương pháp đàm thoại là chủ yếu. Ngược lại, một số giáo 
viên lại chỉ chú ý đến đối tượng học sinh khá giỏi song chưa thực sự quan tâm đến sự 
tiếp thu kiến thức của đối tượng học sinh trung bình và yếu trong lớp, làm cho những 
 GV: Dương Thị Kim Truyền - 1 - Trường Tiểu học Lý Tự Trọng Kinh nghiệm dạy học phân hóa trong môn Tiếng Việt lớp Ba
các phân môn trong môn Tiếng Việt lớp Ba. Nghiên cứu những sai lầm thường gặp và 
biện pháp khắc phục cho học sinh trong dạy học môn Tiếng Việt. 
 Thử nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài.
I.3. Đối tượng nghiên cứu:
 Dạy phân hóa trong môn Tiếng Việt lớp 3 A trường tiểu học Lý Tự Trọng năm 
học 2014 – 2015.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp dạy học phân hoá. 
- Nghiên cứu việc vận dụng phương pháp dạy học phân hóa một cách có hiệu quả theo 
chủ đề trong môn Tiếng Việt lớp Ba.
I.5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc và nghiên cứu các tài liệu viết về lí luận dạy 
học phân hóa trong môn Tiếng Việt và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến tài liệu 
hướng dẫn tự học, sách tham khảo, tạp chí nghiên cứu giáo dục, sau đó phân tích, tổng 
hợp, sáng tạo. 
- Phương pháp điều tra: Quan sát, tìm hiểu, tiến hành thăm lớp, dự giờ trao đổi, tìm 
hiểu ý kiến một số đồng nghiệp dạy giỏi môn Tiếng Việt, có kinh nghiệm, có tâm 
huyết và quan tâm đến đề tài.
 - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thử nghiệm ở học sinh lớp 3 A tại 
trường tiểu học Lý Tự Trọng, so sánh kết quả, đánh giá sự tiến bộ của học sinh trước 
và sau khi áp dụng đề tài.
II. Phần nội dung 
II.1. Cơ sở lý luận
 Xu hướng dạy học phân hóa ở nhiều nước được thực hiện bằng cách định 
hướng hoặc phân luồng cho học sinh ở các môn học tự chọn. Các định hướng này tạo 
cho HS các cơ hội lựa chọn cho mình hướng học lên phù hợp với năng lực, sở thích, 
nguyện vọng và các điều kiện riêng của mỗi HS. Xuất phát từ chức năng giáo dục, xét 
đến cùng là chức năng phát triển của mỗi cá nhân học sinh và trên cơ sở đó tạo ra động 
lực thúc đẩy phát triển. Theo đó, cá nhân chỉ có thể có sự phát triển tối đa khi nhà giáo 
dục và hệ thống giáo dục đáp ứng những khả năng, những nhu cầu, nguyện vọng bằng 
một chương trình nội dung và cách thức phù hợp. 
 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII đã nêu: “Đổi mới mạnh mẽ 
phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành 
 GV: Dương Thị Kim Truyền - 3 - Trường Tiểu học Lý Tự Trọng Kinh nghiệm dạy học phân hóa trong môn Tiếng Việt lớp Ba
nhà trường. Hàng năm đều tổ chức bồi dưỡng cho GV về chuyên môn, nghiệp vụ như 
việc thực hiện chương trình, tiêu chuẩn đánh giá giờ lên lớp, đổi mới phương pháp dạy 
học Việc dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm bài giảng, đánh giá kết quả bài giảng 
theo quan điểm phân hóa đã được tổ chức. Tổ chuyên môn đã phát huy hết vai trò 
trong việc quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên. Dự giờ, thống nhất nội dung bài 
giảng theo quan điểm phân hóa, góp ý rút kinh nghiệm giờ dạy. Duy trì chế độ kiểm 
tra, thanh tra chuyên môn, phối hợp với các tổ chức như công đoàn, đội để kiểm tra 
đánh giá việc thực hiện nề nếp dạy và học ở các lớp. Xây dựng tiêu chí thi đua ngay từ 
đầu năm học. Nhà trường, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường, Ban đại diện cha 
mẹ học sinh đã tích cực phối hợp với nhau tạo sự gắn kết trong công tác giáo dục. Hầu 
hết trước khi bước vào đầu năm học mới, đội ngũ GV đều được tập huấn bồi dưỡng 
chuyên môn nghiệp vụ trong đó chú trọng vào đổi mới phương pháp dạy học, trang bị 
cho GV một số kỹ thuật dạy học tích cực đáp ứng yêu cầu dạy học theo quan điểm dạy 
học phân hóa.
* Khó khăn:
 Trong dạy học phân hóa giáo viên phải phân loại được từng đối tượng HS để từ 
đó mới có kế hoạch dạy học cho phù hợp. Kế hoạch dạy học phải chi tiết, cụ thể cho 
từng đối tượng HS, do đó GV cảm thấy vất vả hơn khi lập kế hoạch dạy học.
 Nhiều giáo viên còn lúng túng, bối rối, chưa tự tin trong việc thiết kế các tiết 
dạy theo kiểu phân hóa cho từng đối tượng HS. Nếu quan tâm nhiều đến HS yếu, 
không có thời gian để định hướng cho HS giỏi, khá phát huy năng lực của bản thân; 
HS giỏi, khá dễ bị nhàm chán.
 Việc sử dụng phương tiện dạy học còn hạn chế do trình độ sử dụng của giáo 
viên chưa linh hoạt, tự tin.
b. Thành công- hạn chế
* Thành công:
 Trong các phương pháp giảng dạy Tiếng Việt thì phương pháp dạy học phân 
hóa là một phương pháp khá hiệu quả. Trong giờ học Tiếng Việt, việc bảo đảm thực 
hiện tốt các mục đích dạy học đối với tất cả các đối tượng học sinh, khuyến khích phát 
triển tối đa và tối ưu những khả năng của cá nhân là yêu cầu vô cùng quan trọng mà 
dạy học phân hóa đã đạt được. Dạy học phân hóa phát huy tốt khả năng cá thể hóa 
hoạt động của học sinh, đưa học sinh trở thành chủ thể của quá trình nhận thức, tiếp 
thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo, phù hợp với năng lực nhận thức của bản 
thân. Bên cạnh đó giáo viên có cơ hội hiểu và nắm được mức độ nhận thức của từng cá 
 GV: Dương Thị Kim Truyền - 5 - Trường Tiểu học Lý Tự Trọng Kinh nghiệm dạy học phân hóa trong môn Tiếng Việt lớp Ba
vận dụng những tri thức đó vào các tình huống khác nhau trong cuộc sống. Phát triển 
những năng lực phẩm chất trí tuệ, giúp cho học sinh biến những phẩm chất thu nhận 
được thành phẩm chất của bản thân mình, thành công cụ để nhận thức và hành động 
đúng đắn trong các lĩnh vực hoạt động học tập các môn học khác, trong cuộc sống 
thường ngày. Giáo dục cho học sinh về tư tưởng, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ của 
người công dân yêu nước trung thực và giản dị. Phát triển ở mỗi học sinh khả năng 
học tập, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng sớm cho học sinh có năng khiếu về môn 
Tiếng Việt, bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước một cách chân thành qua môn 
Tiếng Việt. Giáo dục phẩm chất đạo đức thẩm mỹ đúng đắn phù hợp với con người 
Việt Nam trong thời đại hiện nay.
 * Mặt yếu:
 Dạy học phân hóa trong môn Tiếng Việt ở buổi thứ hai giáo viên chưa thật sự 
mạnh dạn, linh hoạt trong việc xây dựng nội dung. Các nội dung trong tiết dạy còn cơ 
cấu cứng ở môn tự chọn, năng khiếu nên việc điều chỉnh thời lượng khó thực hiện 
được. Mặc dù giáo viên rất tâm huyết với nghề, rất yêu trẻ nhưng chưa thật sự gần gũi, 
thân thiện, chưa thuyết phục học sinh bằng tình cảm, chưa tạo niềm tin cũng như hứng 
thú trong học tập, nhu cầu học tập cho trẻ nhất là học sinh yếu. Việc tổ chức các hoạt 
động sôi nổi trong các tiết học cho học sinh còn hạn chế nên học sinh không có hứng 
thú học tập, không tập trung vào hoạt động học.
 Lớp nào cũng có đủ các đối tượng học sinh (giỏi, khá, trung bình, yếu, cá 
biệt,..), sỉ số lớp đông nên khi thiết kế bài dạy giáo viên mất nhiều thời gian, gặp khó 
khăn. Còn một bộ phận học sinh yếu, gia đình không quan tâm, bất hòa nên các em 
chán học, ngại học, ỷ lại làm ảnh hưởng đến nề nếp và không khí lớp học.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
 Giáo viên chưa có thói quen phân hóa các đối tượng học sinh trong tiết dạy. Nội 
dung tiết dạy thiết kế chưa phù hợp với tình hình thực tế và các đối tượng học sinh của 
lớp.
 Đại đa số bộ phận GV đã nhận thức được trong thời đại ngày nay đổi mới dạy 
học và dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa là tất yếu khách quan, phù hợp với 
xu thế chung của thế giới. Song họ vẫn thực hiện dạy học theo quan điểm dạy học 
phân hóa theo kinh nghiệm truyền thống. Nội dung chương trình một số phần của môn 
học đôi chỗ chưa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh. Phân phối chương trình 
đôi chỗ còn chưa phù hợp (lượng kiến thức của một số bài chưa phù hợp). Giáo viên 
chưa được bồi dưỡng qui trình dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa một cách có 
hệ thống, bài bản. Sự phối hợp giữa học sinh, gia đình và nhà trường trong việc tìm 
hiểu năng lực và nguyện vọng cũng như quản lý học tập của học sinh chưa được quan 
 GV: Dương Thị Kim Truyền - 7 - Trường Tiểu học Lý Tự Trọng Kinh nghiệm dạy học phân hóa trong môn Tiếng Việt lớp Ba
khi dạy môn Tiếng Việt thường gặp nhiều khó khăn hơn bởi bộ môn này chiếm tỷ 
trọng lớn nhất so với các bộ môn khác và có nhiều phân môn khác nhau. 
 Khác rất nhiều đối với quan điểm dạy học khác, điểm khá đặc thù của dạy học 
phân hóa là nhằm phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học 
tập; biến niềm đam mê trong cuộc sống thành động lực trong học tập. Nói cách khác, 
dạy học phân hóa là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của dạy học đồng loạt. Đảm 
bảo mọi đối tượng HS đều đạt được Chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học trong 
chương trình. Có nội dung dành cho đối tượng HS giỏi, khá; HS trung bình, yếu. Dạy 
học phân hóa theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng giúp cho giáo viên biết được lượng kiến 
thức mới và thực hành rèn kỹ năng qua mỗi bài học để xác định yêu cầu cần đạt cho 
từng đối tượng HS. Đồng thời xác định được nội dung cần nâng cao cho đối tượng HS 
giỏi, khá; nội dung cần truyền thụ cho HS trung bình, yếu. Yêu cầu cần đạt trong tài 
liệu Chuẩn kiến thức, kỹ năng được trình bày ngắn gọn, cụ thể, dễ hiểu. Từ đó, giáo 
viên xác định được những kiến thức trọng tâm cần truyền thụ, khắc sâu trong mỗi tiết 
dạy, cho mỗi đối tượng HS. HS giỏi, khá được giáo viên căn cứ vào Chuẩn tối thiểu để 
mở rộng việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng phát huy tính sáng tạo. Học sinh 
trung bình, yếu có cơ hội tiếp cận kiến thức theo khả năng, tạo được sự hứng thú và 
đam mê trong học tập, không thấy bị thua kém bạn bè. 
 II.3. Giải pháp, biện pháp
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
 Tôi hy vọng qua sáng kiến này giúp cho đồng nghiệp thấy được tầm quan trọng 
của việc dạy học phân hóa trong môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học. Có cái nhìn 
sâu hơn về việc dạy học phân hóa cho học sinh. Hiểu được lợi ích to lớn mà học sinh 
có được qua các giờ học phân hóa. Thay đổi suy nghĩ về cách tổ chức dạy học đồng 
loạt cho cùng một đối tượng học sinh. 
 Góp phần cung cấp, hỗ trợ thêm cho giáo viên những phương pháp, kĩ năng, kĩ 
thuật dạy học phân hóa trong các tiết dạy.
 Giúp cho đối tượng học sinh khá giỏi phát huy hết khả năng, trí tuệ của bản 
thân. Học sinh yếu kém có cơ hội phấn đấu vươn lên trong học tập.
b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp, biện pháp
 Dạy học phân hoá có thể thực hiện ở 2 cấp độ :
 Dạy học phân hoá ở cấp vĩ mô (phân hoá ngoài), là sự tổ chức quá trình dạy học 
thông qua cách tổ chức các lớp khác nhau cho các đối tượng HS khác nhau, xây dựng 
các chương trình GD khác nhau. 
 Dạy học phân hoá ở cấp vi mô (phân hoá trong), là tổ chức quá trình dạy học 
trong một tiết học, một lớp học có tính đến đặc điểm cá nhân HS; đặc trưng của lớp 
 GV: Dương Thị Kim Truyền - 9 - Trường Tiểu học Lý Tự Trọng

File đính kèm:

  • docskkn_kinh_nghiem_day_hoc_phan_hoa_trong_mon_tieng_viet_lop_3.doc