Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn Toán Lớp 3

docx 9 trang sangkienlop3 05/03/2024 3110
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn Toán Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn Toán Lớp 3

Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn Toán Lớp 3
 Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 3
 Trong thực tiển có nhiều điều khác với sách vở, có nhiều điều không sách vở nào 
nói hết. Toán học cũng vậy. Sách vở không nói hết mới cần đến vai trò của người thầy. 
Trong thực tiển sách học không lường hết những tình huống xãy ra trong quá trình dạy 
học. Bởi vậy sách dạy chúng ta phương pháp truyền thụ kiến thức. Song chúng ta cũng 
có thể giúp người viết sách hoàn thiện phương pháp giảng dạy một cách tốt hơn. Chưa 
nói đối tượng học sinh ở mỗi địa phương lại có sự khác nhau. Nhận thức của các em có 
sự chênh lệch, do đó người giáo viên tuỳ theo học sinh của lớp mình, của địa phương 
mình để có cách dạy thích hợp.
 Trường TH Văn Hải là trường thuộc vùng nằm giữa trung tâm huyện với các xã 
vùng ven biển. Học sinh Trường TH Văn Hải có đặc điểm riêng, lớp 3 có những điểm 
khác biệt so với lớp 3 trong trường. Một số em môn toán còn yếu, phương pháp học tập 
chưa rõ ràng, còn thụ động trong việc tiếp thu bài. Song điều đáng nói, đây là vùng dân 
cư tập trung tương đối đông chủ yếu theo đạo thiên chúa giáo. Trình độ nhận thức của 
phụ huynh còn nhiều hạn chế. Hơn phân nửa số học sinh là con nhà nghèo có hoàn cảnh 
kinh tế khó khăn. Ngoài giờ học ở trường, về nhà các em còn phụ giúp gia đình để kiếm 
sống. Một số học sinh cha mẹ phải đi làm ăn xa không trực tiếp dạy dỗ, chăm sóc. Vì 
vậy, các em còn lo chơi chưa chú ý về học tập. Những bài học bài tập còn xao lãng. Như 
vậy trách nhiệm nặng nề thuộc vào người giáo viên trực tiếp đứng lớp.
1. Giải pháp cũ thường làm
 Chương trình sách giáo khoa lớp 3 cũ và thực hiện đổi mới chương trình sách 
giáo khoa môn Toán 3. Bản thân đã có tinh thần trách nhiệm, có ý thức về chuyên môn 
trong việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy toán 3 mới. Tôi nhận thấy đối tượng học 
sinh không đồng đều một số học sinh trung bình, yếu, . Phần nhiều học sinh chưa nắm 
vững chắc những kiến thức cơ bản về toán như:
 + Chưa thuộc bảng nhân, chia.
 + Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn, chục).
 + Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia cột dọc).
 + Đặc biệt các em còn rất yếu trong việc giải toán có lời văn.
 + Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán.
 - Đứng trước thực trạng trên, là giáo viên chủ nhiệm lớp 3 tôi thật sự băn khoăn và 
đặt ra nhiệm vụ là làm thế nào để bồi dưỡng, hình thành cho học sinh những kiến thức 
cơ bản giúp học sinh học tốt môn toán.
1.1. Nội dung giải pháp.
 Năm học 2019 - 2020 tôi được phân công giảng dạy lớp 3A, tôi đã thực hiện một 
số giải pháp dạy môn Toán như:
 1. Tìm hiểu kĩ các đối tượng học sinh trong lớp ngay từ đầu năm học.
 2. Nắm vững mục tiêu của từng bài dạy theo đúng nội dung, chuẩn kiến thức kĩ 
năng; đảm bảo việc truyền thụ đúng, đủ và khắc sâu kiến thức cho học sinh. khoảng thời gian ngắn hơn. Khi đó, tôi khích lệ các em tiếp tục tìm thêm các hướng giải 
khác cho bài toán (nếu có thể) hoặc giao thêm 1 - 2 bài tập nhằm củng cố và nâng cao 
kiến thức vừa học. Qua đó, các em phát huy cao độ tính vận dụng sáng tạo khả năng của 
mình.
 Giải pháp 2. Nâng cao hiệu quả truyền thụ kiến thức cho học sinh.
* Luyện cho học sinh thuộc bảng nhân, chia.
 Qua những năm giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn toán thì không 
thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng nhân, chia. Bởi lẽ học sinh có thuộc bảng 
nhân, chia mới vận dụng giải các bài tập có liên quan. Đặc biệt là các phép chia có số bị 
chia 3, 4 chữ số và giải toán hợp.
 Để luyện cho học sinh thuộc và khắc sâu các bảng nhân, chia tôi làm như sau:
 Khi dạy tôi hướng dẫn học sinh lập được bảng nhân, chia và tôi chốt lại cho học 
sinh nắm sâu hơn và dễ nhớ hơn như sau:
 VD: Bảng nhân.
 Các thừa số thứ nhất trong bảng nhân đều bằng nhau.
 Các thừa số thứ hai trong bảng nhân đều khác nhau theo thứ tự là 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 
8, 9, 10. Mỗi thừa số này liền nhau hơn kém nhau 1 đơn vị. ( trong bảng nhân các thừa 
số thứ hai nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 10 không có thừa số 0).
 Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa số thứ nhất. 
(Tích thứ nhất trong bảng nhân chính là thừa số thứ nhất, tích cuối cùng trong bảng nhân 
gấp thừa số thứ nhất 10 lần).
 VD: Bảng chia 9.
 Các số bị chia trong bảng chia 9 là các tích của bảng nhân 9, và hơn kém nhau 9 
đơn vị.
 Số chia trong bảng chia 9 là các thừa số thứ nhất của bảng nhân 9 đều là 9.
 Các thương của bảng chia 9 là thừa số thứ hai của bảng nhân 9.
 Để khắc sâu kiến thức cho học sinh, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.
 VD: Trò chơi ôn lại bảng nhân, chia ( chuyền bóng)
 Cách chơi:
 Giáo viên đọc một phép nhân chia trong bảng nhân chia đã học rồi tung bóng cho 
học sinh, các em phải bắt bóng cẩn thận và trả lời kết quả. Em đó tiếp tục đọc phép tính 
khác và tung bóng cho bạn khác trả lời, cứ tiếp tục như vậy cho tới khi trò chơi kết thúc.
* Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên.
 Học sinh biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên là chuỗi kiến thức rất quan trọng 
trong chương trình toán 3.
 Chuỗi kiến thức này nhằm giúp học sinh nắm được cách đọc, viết và so sánh các số 
tự nhiên vận dụng vào cộng, trừ, nhân, chia số thứ tự và giải bài toán hợp.
 Dạy chuỗi kiến thức này theo tôi người giáo viên cần hình thành cho học sinh những 
kiến thức cơ bản sau:
 Giúp học sinh hiểu các số tự nhiên.
 Các số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, . . . là các số tự nhiên.
 Số 0 là số tự nhiên bé nhất, không có số tự nhiên lớn nhất. hơn và ngược lại. VD: 9999 999.
 - Còn các số có cùng chữ số thì sao? Ngoài việc làm theo qui tắc thì tôi còn làm 
như sau:
 So sánh từng hàng tương ứng trong hai số, từ hàng lớn nhất lần lượt tới hàng đơn 
vị.
 VD: so sánh hai số 9780 và 9681. Hai số này đều là số có bốn chữ số vì vậy ta sẽ 
so sánh như sau: Hàng nghìn đều là 9 = 9, ta tiếp tục so sánh hàng trăm nếu số nào có 
hàng trăm lớn hơn thì số đó lớn hơn, 7 > 6 vì vậy 9780 > 9681
* Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia cột dọc)
 Theo tôi, đặt tính cũng là một việc hết sức quan trọng trong quá trình làm tính. 
Nếu học sinh không biết cách đặt tính hoặc tính sai sẽ dẫn đến kết quả sai. Vì thế theo 
tôi nghĩ, để học sinh có căn bản khi thực hiện phép tính phải nắm vững cách đặt tính khi 
tính cộng trừ, nhân chia.
 Đối với phép cộng, trừ: (giúp học sinh nhớ và áp dụng)
 Cần hướng dẫn học sinh kĩ là phải đặt tính thẳng hàng (hàng đơn vị theo hàng đơn 
vị, hàng chục theo hàng chục, hàng trăm theo hàng trăm, hàng nghìn theo hàng nghìn). 
Hướng dẫn học sinh bắt đầu cộng từ hàng đơn vị (hoặc từ phải sang trái). Nên lưu ý học 
sinh đối với phép trừ có nhớ, cần bớt ra khi trừ hàng kế tiếp.
 GV nói: Khi kẻ lần vạch ngang, tất cả các em đều dùng bằng thước.
 Nhắc học sinh chú ý: Trong phép cộng, trừ chỉ nhớ số 1, không nhớ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 
8, 9.
 Đối với phép nhân, chia: (giúp học sinh nhớ và áp dụng).
 Phép nhân
 Khi đặt tính giáo viên lưu ý cho học: Viết thừa số thứ nhất ở 1 dòng, viết thừa số 
thứ hai ở dòng dưới sao cho thẳng cột với hàng đơn vị (nhân số có 2, 3, 4 chữ số với số 
có 1 chữ số). Viết dấu nhân ở giữa hai dòng thừa số thứ nhất và thừa số thứ hai và lùi ra 
khoảng 1,2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng thước kẻ.
 Khi thực hiện phép nhân này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng đơn vị, sau đó 
đến hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn (hoặc tính từ phải sang trái). Các chữ số ở tích 
nên viết sao cho thẳng cột với theo từng hàng, bắt đầu từ hàng đơn vị, chục, trăm, nghìn 
của thừa số thứ nhất.
 Đối với cách viết từng chữ số của tích có nhớ, ta nên viết số đơn vị, nhớ số chục. 
(hoặc nhắc học sinh viết số bên tay phải nhớ số bên tay trái).
 Phép chia
 Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì phép chia 
là khó nhất vì:
 Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp (có em chỉ 
mới thực hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện hết). Cần hướng dẫn kĩ cho học 
sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, . . . Đặc biệt đối với học sinh yếu toán, tôi hướng 
dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp các em thấy được hàng nào thực hiện rồi, hàng nào chưa 
thực hiện. Thực hiện như sau: 10 : 5 = 2 (can)
Đáp số: 2 can.
 Song song với qui trình hướng dẫn giải, tôi luôn lưu ý học sinh cách trình bày bài 
giải sao cho phù hợp với trình tự yêu cầu của đề, cụ thể như bài toán vừa hướng dẫn 
trên, tôi hướng dẫn các em trình bày như sau:
Bài giải
Số lít mật ong đựng trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số can đựng 10l mật ong là:
10 : 5 = 2 (can)
Đáp số: 2 can.
* Giúp học sinh nắm, thuộc các qui tắc đã học.
 Tuy nhiên học sinh đã biết cộng, trừ, nhân, chia, . . . cũng chưa giải hết được các 
bài toán trong chương trình sách giáo khoa toán lớp 3. Vì thế tôi cần giúp cho các em 
thuộc và khắc sâu các qui tắc đã học để áp dụng và làm toán tốt hơn, tôi làm như sau:
 Tôi soạn lại các qui tắc đã học và có ví dụ , rồi in trên giấy A4, phát cho học sinh 
và yêu cầu các em phải học thuộc.
Giải pháp 3. Sự quan tâm, động viên, khích lệ của các cá nhân và tổ chức xã hội.
 - Duy trì việc thi “ Giải toán qua mạng” hằng năm cho học sinh.
 - Nhà trường, gia đình, thầy cô luôn biết khích lệ biểu dương các em kịp thời. Hãy 
khen ngợi những em hoàn thành tốt môn Toán để các em thấy giá trị của mình được 
nâng cao, có niềm tin và hứng thú học tập hơn.
 - Luôn thể hiện cho học sinh thấy tình cảm yêu thương của một người thầy đối với 
học sinh, lòng nhân ái, bao dung, đức vị tha của người thầy luôn có một sức mạnh to lớn 
để giáo dục và cảm hóa học sinh.
 - Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh; kiên trì vận động cha mẹ tích cực tham 
gia vào việc học tập của con em.
 - Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu, phải thường xuyên đổi mới, sử 
dụng tốt các phương pháp dạy thông qua từng tiết dạy cụ thể sao cho phù hợp với học 
sinh, kiên trì bền bỉ từng bước thì chắc chắn sẽ gặt hái được thành quả tốt đẹp.
 * Tính mới của giải pháp.
 - Tôi nghĩ rằng đây là sáng kiến mang cả tính mới về nội dung và hình thức. Bởi 
vì việc tìm ra "Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 3" là cần thiết trong 
nhà trường. Các giải pháp đã nêu lên các cách hình thành kiến thức, kĩ năng cho học 
sinh một cách dễ hiểu, dễ làm, đạt hiệu quả và chủ động trong quá trình học từ đó giúp 
các giáo viên dạy học môn Toán tốt hơn.
 - Phân hóa học sinh để có phương pháp giảng giạy phù hợp.
 - Gần gũi, quan tâm và xây dựng mối quan hệ thầy - trò để học thoải mái phát huy 
tính tích cực trong tiết học.
 - Khích lệ, quan tâm học sinh giải toán qua mạng để nâng cao kĩ năng giải toán.
 - Sáng tạo trong khích lệ học sinh theo thông tư 22/2016. - Giáo viên cần quan sát đến thái độ, hành động, sai sót của học sinh để kịp thời 
sửa chữa.
 - Giáo viên luôn có ý thức rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 
sư phạm.
 * Khả năng áp dụng.
 Tôi thiết nghĩ việc thực hiện các giải pháp trong sáng kiến của tôi có thể áp dụng 
cho tất cả mọi giáo viên khối lớp 3 ở Tiểu học, ở các vùng miền khác nhau trên đất nước. 
Để có những mầm non thực sự là chủ nhân tương lai của đất nước cần có những người 
thầy thực sự tâm huyết và có trách nhiệm với nghề, song bên cạnh đó rất cần có sự chỉ 
đạo sát sao của Phòng giáo dục, của Ban giám hiệu nhà trường và sự quan tâm của các 
bậc phụ huynh.
 Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong việc nghiên cứu, áp dụng "Một số 
giải pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp 3". Rất mong nhận được sự đánh giá 
của đồng nghiệp để sao cho chất lượng học sinh ngày càng nâng cao, đáp ứng được yêu 
cầu của ngành và chất lượng đào tạo trong trường Tiểu học./.
Văn Hải, ngày tháng 4 năm 2021
Nguyễn Thị Thu Hà

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_giup_hoc_sinh_hoc_tot.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn Toán Lớp 3.pdf